Các chế độ người lao động được hưởng khi nghỉ việc vì lý do kinh tế

Tôi ký hợp đồng lao động với cơ quan từ ngày 1-2-2008, đến nay cơ quan cho tôi nghỉ việc vì kinh phí hoạt động không đủ trả lương (cơ quan tôi là Ban quản lý dự án)
Trong tháng 7-2015 cơ quan thông báo cho tôi nghỉ việc (bắt đầu nghỉ từ 1-7 mà chưa có văn bản). Trước đó trong các cuộc họp của cơ quan lãnh đạo có thông báo chung chung là sẽ cho nghỉ việc vì công việc không có nên không có chi phí để trả lương ( ban quản lý dự án ăn lương theo dự án).
1. Cơ quan cho tôi nghỉ việc như vậy đúng hay sai ( hợp đồng của tôi là hợp đồng không xác định thời hạn).
2. Khi nghỉ việc tôi có được hưởng trợ cấp thôi việc và trợ cấp mất việc không? Nếu có tôi sẽ được thanh toán bao nhiêu tháng và những khoản gì (tôi vẫn đóng đủ bhyt , bhxh và bhtn từ 1-1-2009).
3. Nếu cơ quan cho tôi nghỉ việc là sai thì làm sao tôi có thể khiếu nại được? Và với ai? quy định thế nào?
Chấm dứt hợp đồng lao động

Trả lời: Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đề nghị tư vấn đến Luật Sư Toàn Quốc, trường hợp của bạn chúng tôi tư vấn như sau:

Về chấm dứt hợp đồng lao động

Theo quy định tại khoản 10, điều 36 Luật lao động 2012 về các trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động có quy định:

“10. Người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại Điều 38 của Bộ luật này; người sử dụng lao động cho người lao động thôi việc do thay đổi cơ cấu, công nghệ hoặc vì lý do kinh tế hoặc do sáp nhật, hợp nhất, chia tách doanh nghiệp, hợp tác xã”.

Do vậy, nếu như doanh nghiệp có thể vì lý do kinh tế khó khăn mà chấm dứt hợp đồng với anh một cách hợp pháp. Trường hợp này được quy định cụ thể tại điều 44 Luật lao động 2012:

“Điều 44. Nghĩa vụ của người sử dụng lao động trong trường hợp thay đổi cơ cấu, công nghệ hoặc vì lý do kinh tế

1. Trường hợp thay đổi cơ cấu, công nghệ mà ảnh hưởng đến việc làm của nhiều người lao động, thì người sử dụng lao động có trách nhiệm xây dựng và thực hiện phương án sử dụng lao động theo quy định tại Điều 46 của Bộ luật này; trường hợp có chỗ làm việc mới thì ưu tiên đào tạo lại người lao động để tiếp tục sử dụng.

Trong trường hợp người sử dụng lao động không thể giải quyết được việc làm mới mà phải cho người lao động thôi việc thì phải trả trợ cấp mất việc làm cho người lao động theo quy định tại Điều 49 của Bộ luật này”.

Về trợ cấp mất việc làm

Điều 49 về trợ cấp mất việc làm có quy định:

“1. Người sử dụng lao động trả trợ cấp mất việc làm cho người lao động đã làm việc thường xuyên cho mình từ 12 tháng trở lên mà bị mất việc làm theo quy định tại Điều 44 và Điều 45 của Bộ luật này, mỗi năm làm việc trả 01 tháng tiền lương nhưng ít nhất phải bằng 02 tháng tiền lương.

2. Thời gian làm việc để tính trợ cấp mất việc làm là tổng thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động trừ đi thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội và thời gian làm việc đã được người sử dụng lao động chi trả trợ cấp thôi việc.

3. Tiền lương để tính trợ cấp mất việc làm là tiền lương bình quân theo hợp đồng lao động của 06 tháng liền kề trước khi người lao động mất việc làm”.

Vì vậy, khi doanh nghiệp chấm dứt hợp đồng lao động theo vì lý do quy định điều 44 Bộ luật này thì anh sẽ được hưởng trợ cấp mất việc.

Về trợ cấp thất nghiệp

Tuy nhiên, nếu thời điểm 1-1-2009, doanh nghiệp đã đóng bảo hiểm thất nghiệp cho anh thì anh sẽ không được tính hưởng trợ cấp mất việc từ thời điểm này nữa mà sẽ được hưởng trợ cấp thất nghiệp theo quy định tại điều 45 Luật Việc làm 2013 về thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp:

“3. Thời gian người lao động đóng bảo hiểm thất nghiệp không được tính để hưởng trợ cấp mất việc làm hoặc trợ cấp thôi việc theo quy định của pháp luật về lao động, pháp luật về viên chức”.

Mức, thời gian, thời điểm hưởng trợ cấp thất nghiệp được quy định cụ thể tại điều 50 Luật việc làm 2013:

“1. Mức hưởng trợ cấp thất nghiệp hằng tháng bằng 60% mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp của 06 tháng liền kề trước khi thất nghiệp nhưng tối đa không quá 05 lần mức lương cơ sở đối với người lao động thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định hoặc không quá 05 lần mức lương tối thiểu vùng theo quy định của Bộ luật lao động đối với người lao động đóng bảo hiểm thất nghiệp theo chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định tại thời điểm chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc.

2. Thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp được tính theo số tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp, cứ đóng đủ 12 tháng đến đủ 36 tháng thì được hưởng 03 tháng trợ cấp thất nghiệp, sau đó, cứ đóng đủ thêm 12 tháng thì được hưởng thêm 01 tháng trợ cấp thất nghiệp nhưng tối đa không quá 12 tháng.

3. Thời điểm hưởng trợ cấp thất nghiệp được tính từ ngày thứ 16, kể từ ngày nộp đủ hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp theo quy định tại khoản 1 Điều 46 của Luật này”.

Về việc khiếu nại

Việc doanh nghiệp cho anh nghỉ việc phải có thông báo chính thức bằng văn bản đến người lao động và lý do cho nghỉ việc cũng phải được thể hiện rõ trong thông báo gửi cho anh. Nếu muốn khiếu nại về hành vi chấm dứt hợp đồng lao động này anh có thể:

– Thông qua tổ chức Công đoàn tại cơ sở khiếu nại đến Ban giám đốc doanh nghiệp.

– Làm đơn khiếu nại đến Phòng Lao động – Thương binh – Xã hội nơi công ty hoạt động.

0/5 (0 Reviews)

Leave a Comment

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.