Có được tự ý thuyên chuyển công tác người lao động không?

Việc chuyển người lao động sang làm công việc khác, địa điểm khác so với hợp đồng lao động hiện nay được quy định như thế nào? Trong trường hợp công ty chuyển người lao động khác so với hợp đồng lao động thì người lao động cần phải làm gì để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình? Nếu gặp các vướng mắc liên quan đến vấn đề này, bạn có thể tham khảo trường hợp sau đây:

1. Luật sư tư vấn luật lao động

Trong quan hệ lao động, người sử dụng lao động và người lao động đều phải có nghĩa vụ tôn trọng và thực hiện hợp đồng lao động đã giao kết. Trường hợp gặp khó khăn đột xuất do thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh… thì người sử dụng lao động có quyền tạm thời chuyển người lao động sang làm công việc khác so với hợp đồng lao động.

Tuy nhiên, việc tạm thời chuyển người lao động sang làm công việc khác cần phải đáp ứng đủ điều kiện về thời hạn và mức lương theo quy định của pháp luật. Trường hợp công ty thực hiện không đúng quy định của pháp luật, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động thì người lao động cần phải tham khảo các quy định của pháp luật lao động hoặc hỏi ý kiến luật sư tư vấn. Nếu không có thời gian tìm hiểu hoặc không có luật sư riêng, bạn hãy liên hệ đến Luật Sư Toàn Quốc để chúng tôi giải đáp và hướng dẫn các phương án cụ thể.

Để được hỗ trợ, tư vấn pháp lý về các vấn đề liên quan đến pháp luật lao động bạn hãy gửi câu hỏi cho chúng tôi hoặc Gọi: 0926 220 286 để được tư vấn.

Ngoài ra, bạn có thể tham khảo tình huống chúng tôi tư vấn sau đây để có thêm kiến thức bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

2. Tư vấn pháp luật về vấn đề chuyển người lao động làm công việc khác so với hợp đồng lao động

Hỏi: Nội dung yêu cầu tư vấn: Xin chào công ty Luật Sư Toàn Quốc. Tôi có môt việc xin nhờ công ty tư vấn giúp về thuyên chuyển công tác như sau: Ngày 28/10/2013, tôi vào làm kế toán tổng hợp cho 1 công ty TNHH và hợp đồng lao động được ký từ 28/10/2013 đến 27/10/2014, sau đó tái ký 1 năm từ 28/10/2014 đến 27/10/2015.

Tôi là lao động nữ, tôi sinh con vào ngày 07/12/2014 và tôi đã nghỉ thai sản theo chế độ quy định từ 01/12/2014 đến 31/05/2015. Nhưng do công ty thiếu người làm báo cáo tài chính cuối năm nên vào ngày 09/03/2015 tôi đã đi làm lại sớm hơn (có sự thỏa thuận giữa 2 bên).

Nhưng khi vừa hoàn thành báo cáo tài chính cuối năm thì công ty lại có quyết định thuyên chuyển công việc của tôi không đúng chuyên môn, không đúng với hợp đồng lao động. Chuyên môn của tôi là kế toán mà lại thuyên chuyển sang làm admin (hành chánh, văn phòng) mà không hề có sự thỏa thuận hay thông báo trước cho tôi.

Vậy tôi muốn hỏi luật sư, trường hợp tôi không chấp nhận công việc mới thì tôi có gì sai không và ngược lại cty làm như vậy với tôi thì họ có sai luật không?
Tôi không muốn nghỉ việc và cũng không muốn nhận công việc mới này. Vậy có cách nào cty phải cho tôi làm việc vị trí kế toán như trước đây hay không

Chân thành cảm ơn luật sư. Xin chào

Trả lời: Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đề nghị tư vấn đến Luật Sư Toàn Quốc, trường hợp của bạn chúng tôi tư vấn như sau:

Thứ nhất, về việc bạn đi làm lại khi chưa hết thời gian nghỉ thai sản.

Theo quy định tại Điều 157 Bộ luật lao động 2012 thì trong trường hợp người lao động đi làm lại khi chưa hết thời gian nghỉ thai sản thì “ngoài tiền lương của những ngày làm việc do người sử dụng lao động trả, lao động nữ vẫn tiếp tục được hưởng trợ cấp thai sản theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội.”

Thứ hai, về việc công ty có quyết định thuyên chuyển công tác đối với bạn.

Điều 31 Bộ luật lao động năm 2012 quy định về việc người sử dụng lao động có thể chuyển người lao động làm công việc khác so với hợp đồng lao động trong trường hợp:

“1. Khi gặp khó khăn đột xuất do thiên tai, hoả hoạn, dịch bệnh, áp dụng biện pháp ngăn ngừa, khắc phục tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, sự cố điện, nước hoặc do nhu cầu sản xuất, kinh doanh, người sử dụng lao động được quyền tạm thời chuyển người lao động làm công việc khác so với hợp đồng lao động, nhưng không được quá 60 ngày làm việc cộng dồn trong một năm, trừ trường hợp được sự đồng ý của người lao động.

2. Khi tạm thời chuyển người lao động làm công việc khác so với hợp đồng lao động, người sử dụng lao động phải báo cho người lao động biết trước ít nhất 03 ngày làm việc, thông báo rõ thời hạn làm tạm thời và bố trí công việc phù hợp với sức khoẻ, giới tính của người lao động.

3. Người lao động làm công việc theo quy định tại khoản 1 Điều này được trả lương theo công việc mới; nếu tiền lương của công việc mới thấp hơn tiền lương công việc cũ thì được giữ nguyên mức tiền lương cũ trong thời hạn 30 ngày làm việc. Tiền lương theo công việc mới ít nhất phải bằng 85% mức tiền lương công việc cũ nhưng không thấp hơn mức lương tối thiểu vùng do Chính phủ quy định.”

Như vậy, công ty chỉ có quyền chuyển công tác của bạn vì lý do công ty thu hẹp quy mô, cắt giảm nhân sự, công việc của bạn không còn nữa và có nhu cầu chuyển bạn làm công việc khác và phải dựa trên sự thỏa thuận của hai bên. Đồng thời công ty có trách nhiệm phải bảo trước cho bạn biết ít nhất là 3 ngày về việc chuyển công tác. Nếu không thỏa thuận được thì 2 bên có thể thỏa thuận chấm dứt hợp đồng.
Bởi vậy, nếu không thuộc các trường hợp theo quy định trên thì công ty bạn không có quyền tự ý điều chuyển công tác không đúng với hợp đồng lao động đã giao kết.

Thứ ba, bạn không nhận quyết định điều chuyển công tác của công ty.

Theo quy định tại Điều 37 Bộ luật lao động 2012 thì một trong những điều kiện để người lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động đó là “Không được bố trí theo đúng công việc, địa điểm làm việc hoặc không được bảo đảm điều kiện làm việc đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động;” Bởi vậy, nếu bạn không đồng ý với quyết định chuyển công tác này của công ty thì bạn có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động. Khi bạn đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động đúng luật, bạn sẽ không phải bồi thường bất cứ khoản chi phí nào cho công ty, và công ty sẽ có trách nhiệm trả trợ cấp thôi việc và các khoản tiền lương, tiền công khác (nếu có) cho bạn khi chấm dứt hợp đồng.

 Thứ tư, về việc bạn muốn tiếp tục ở lại công ty làm việc theo đúng chuyên môn của mình. Thì bạn có thể thỏa thuận lại với phía công ty. Hoặc nhờ đến sự giúp đỡ tổ chức công đoàn của công ty.


Xem thêm: Thành lập công ty nhưng không hoạt động thì bị xử lý thế nào?

Câu hỏi thứ 2 – Điều kiện tuyển dụng công chức không qua thi tuyển

Tôi đã công tác tại UBND xã đủ 60 tháng tại vị trí văn phòng – thống kê. Nhưng tôi mới có bắng đại học mới 24 tháng (lúc đầu tôi vào cơ quan là bằng cao đẳng). theo Điều 19 của Nghị định 24/2010/NĐ-CP cũng có quy định các trường hợp đặc biệt trong tuyển dụng: Căn cứ điều kiện đăng ký dự tuyển công chức quy định tại Khoản 1 Điều 36 Luật Cán bộ, công chức và yêu cầu công việc, người đứng đầu cơ quan quản lý công chức được xem xét, tiếp nhận không qua thi tuyển đối với các trường hợp đặc biệt sau: Người có trình độ đào tạo từ đại học trở lên, có kinh nghiệm công tác trong ngành, lĩnh vực cần tuyển dụng từ 05 năm trở lên, đáp ứng được ngay yêu cầu của vị trí việc làm cần tuyển dụng. Cho tôi hỏi vậy tôi có đủ điều kiện xét tuyển không? Vì Phòng Nội vụ tại huyện của tôi trả lời là tôi không đủ điều kiện vì bằng đại học của tôi chưa đủ 60 tháng. Có đúng hay không? Xin cảm ơn!

Trả lời: Đối với yêu cầu hỗ trợ của anh/chị chúng tôi đã tư vấn trường hợp tương tự sau đây:

>> Quy định về việc tuyển dụng công chức thông qua xét tuyển

Căn cứ theo quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 19 Nghi định 24/2010/NĐ-CP:

“1. Căn cứ điều kiện đăng ký dự tuyển công chức quy định tại Khoản 1 Điều 36 Luật Cán bộ, công chức và yêu cầu công việc, người đứng đầu cơ quan quản lý công chức được xem xét, tiếp nhận không qua thi tuyển đối với các trường hợp đặc biệt sau:

c) Người có trình độ đào tạo từ đại học trở lên, có kinh nghiệm công tác trong ngành, lĩnh vực cần tuyển dụng từ 05 năm trở lên, đáp ứng được ngay yêu cầu của vị trí việc làm cần tuyển dụng”.

Trường hợp này được hướng dẫn chi tiết tại Điểm b Khoản 1 Điều 10 Thông tư 13/2010/TT-BNV như sau:

“b) Người có kinh nghiệm công tác theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 19 Nghị định số 24/2010/NĐ-CP được xem xét tiếp nhận không qua thi tuyển, nếu có đủ các điều kiện, tiêu chuẩn sau:

– Bảo đảm các điều kiện đăng ký dự tuyển công chức quy định tại Điều 1 Thông tư này;

– Có bằng tốt nghiệp đại học trở lên; hiện đang công tác trong ngành, lĩnh vực cần tuyển; có thời hạn từ đủ 60 tháng trở lên làm công việc yêu cầu trình độ đào tạo đại học, sau đại học trong ngành, lĩnh vực cần tuyển (không kể thời gian tập sự, thử việc và nếu có thời gian công tác không liên tục thì được cộng dồn); trong thời gian công tác 05 năm gần nhất không vi phạm pháp luật đến mức bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; đáp ứng được ngay yêu cầu của vị trí việc làm cần tuyển hoặc thuộc một trong các trường hợp quy định tại điểm c khoản 2 điều này”.

Như vậy, điều kiện xác định có kinh nghiệm công tác trong ngành, lĩnh vực cần tuyển dụng từ 5 năm trở lên yêu cầu cần làm công việc có yêu cầu trình độ đào tạo đại học, sau đại học trong ngành, lĩnh vực cần tuyển. Do trước đó chị có bằng cao đẳng, làm các công việc yêu cầu trình độ cao đẳng do đó chưa đủ điều kiện để được xét tuyển không qua thi tuyển.

0/5 (0 Reviews)

Leave a Comment

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.