Công ty có quyền khởi kiện yêu cầu NLĐ hoàn trả chi đào tạo khi chấm dứt HĐLĐ?

Luât sư tư vấn về trường hợp giữa công ty và người lao động không có hợp đồng lao động, nay người lao động nghỉ ngang công ty có quyền khởi kiện yêu cầu bồi thường và hoàn trả chi phí đào tạo. Nội dung tư vấn:

Nội dung câu hỏi:Xin chào công ty luật Toàn Quốc,Câu hỏi tư vấn: Tôi có ký một hợp đồng đào tạo với công ty TNHH. Trong thời gian đào tạo tôi đã nghỉ ngang dẫn đến việc công ty yêu cầu chấm dứt hợp đồng và yêu cầu tôi đóng số tiền là …Vậy câu hỏi tôi đặt ra là công ty có quyền khởi kiện tôi nếu như tôi không đóng tiền không? Do tôi chưa ký kết hợp đồng lao động với công ty và công ty cũng không đóng bảo hiểm lao động cho tôi, mặc khác công ty không nêu rõ những chi phí liên quan đến việc đào tạo này mà chỉ ghi số tiền phải đóng phạt.Xin chân thành cảm ơn.

Trả lời: Cám ơn bạn gửi câu hỏi của bạn đến công ty Luật Sư Toàn Quốc, với câu hỏi của bạn chúng tôi xin tư vấn như sau:

Do thông tin bạn cung cấp chưa đầy đủ, nên chúng tôi chưa xác định được việc ký kết hợp đồng đào tạo này được thực hiện trong quá trình bạn đã là người lao động của công ty hay được ký kết trước thời điểm này. Chúng tôi xin đưa ra 2 trường hợp để giải quyết

Trường hợp 1: Hợp đồng đào tạo được ký kết trong quá trình bạn đang thực hiện hợp đồng lao động của công ty.

Trong trường hợp này cần làm rõ bản chất việc bạn nghỉ ngang là đây là chấm dứt quan hệ lao động với công ty hay chấm dứt thực hiện hợp đồng đào tạo nhưng vẫn tiếp tục làm việc tại công ty và công ty là người chấm dứt hợp đồng lao động.

+  Trường hợp bạn chấm dứt quan hệ lao động với công ty thì để xác định trách nhiệm bồi thường do việc chấm dứt hợp đồng sẽ căn cứ dựa trên việc chấm dứt có đúng quy định pháp luật hay không. Nếu việc chấm dứt đúng quy định pháp luật (đáp ứng điều kiện theo quy định tại Điều 37 Bộ luật lao động năm 2012) và trong hợp đồng đào tạo nghề không có quy định rõ về một trong các điều khoản “bồi hoàn chi phí đào tạo trong mọi trường hợp…”  thì công ty không đủ căn cứ để yêu cầu bạn phải hoàn trả chi phí đào tạo. Tuy nhiên, trong trường hợp bạn đơn phương chấm dứt trái với quy định pháp luật thì bạn sẽ có trách nhiệm bồi thường cho phía công ty những khoản sau theo quy định tại Điều 43 ​ Bộ luật lao động 2012. . Cụ thể:

Điều 43. Nghĩa vụ của người lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật

1. Không được trợ cấp thôi việc và phải bồi thường cho người sử dụng lao động nửa tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.

2. Nếu vi phạm quy định về thời hạn báo trước thì phải bồi thường cho người sử dụng lao động một khoản tiền tương ứng với tiền lương của người lao động trong những ngày không báo trước.

3. Phải hoàn trả chi phí đào tạo cho người sử dụng lao động theo quy định tại Điều 62 của Bộ luật này.”

Theo đó, công ty có quyền khởi kiện yêu cầu bạn ngoài việc bồi thường do hành vi đơn phương chấm dứt hợp đồng và hoàn trả chi phí đào tạo nếu bạn không thanh toán. Tuy nhiên, việc thanh toán chi phí đào tạo chỉ áp dụng đối với khoản chi có hóa đơn xác nhận rõ ràng như Chi phí đào tạo bao gồm các khoản chi có chứng từ hợp lệ về chi phí trả cho người dạy, tài liệu học tập, trường, lớp, máy, thiết bị, vật liệu thực hành, các chi phí khác hỗ trợ cho người học và tiền lương, tiền đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế cho người học trong thời gian đi học. Trường hợp người lao động được gửi đi đào tạo ở nước ngoài thì chi phí đào tạo còn bao gồm chi phí đi lại, chi phí sinh hoạt trong thời gian ở nước ngoài

+ Trường hợp bạn chấm dứt thực hiện hợp đồng đào tạo nhưng vẫn tiếp tục làm việc tại công ty và công ty là người chấm dứt hợp đồng lao động. Trong trường hợp này nếu hợp đồng đào tạo không có quy định khác thì việc công ty là người ra thông báo chấm dứt hợp đồng lao động sẽ không đặt ra vấn đề hoàn trả chi phí đào tạo. Theo đó, căn cứ khởi kiện yêu cầu hoàn trả là không có cơ sở.

Trường hợp 2: Hợp đồng đào tạo được ký độc lập khi bạn chưa là người lao động của công ty

Để xác định việc bồi thường của bạn đối với công ty khi yêu cầu bạn chấm dứt hợp đồng sẽ dựa trên thỏa thuận của các bên được quy định trong hợp đồng đào đạo. Nếu có căn cứ về việc bạn phải bồi thường cho công ty, khi bạn không tư nguyện thực hiện trách nhiệm thì bên công ty có quyền khởi kiện ra Tòa án yêu cầu bạn thực hiện nghĩa vụ hoàn trả chi phí đào tạo nhưng bên công ty phải có giấy tờ hợp lệ về các chi phí đào tạo cho bạn.

Bên cạnh đó, xét thấy hành vi không ký kết hợp đồng lao động với bạn và không tham gia bảo hiểm xã hội cho bạn nếu bạn đang là người lao động của công ty là vi phạm pháp luật theo quy định tại Điều 18 và Điều 186 Bộ luật lao động 2012. Cụ thể:

“Điều 18. Nghĩa vụ giao kết hợp đồng lao động

1. Trước khi nhận người lao động vào làm việc, người sử dụng lao động và người lao động phải trực tiếp giao kết hợp đồng lao động.

Trong trường hợp người lao động từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi, thì việc giao kết hợp đồng lao động phải được sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật của người lao động…”

Điều 186. Tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế

1. Người sử dụng lao động, người lao động phải tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm y tế bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp và được hưởng các chế độ theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội và pháp luật về bảo hiểm y tế.

Khuyến khích người sử dụng lao động, người lao động thực hiện các hình thức bảo hiểm xã hội khác đối với người lao động.”

Ngoài ra, bạn có thể làm đơn khiếu nại hành vi vi phạm của công ty bạn tới cơ quan có thẩm quyền vì không ký kết hợp đồng lao động và không tham gia bảo hiểm xã hội. Mức xử lý được quy định tại Nghị định 93/2015/NĐ-CP, được sửa đổi tại Nghị định 88/2015/NĐ-CP

Điều 10. Vi phạm quy định về đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề

…2. Phạt tiền người sử dụng lao động có một trong các hành vi: Không đào tạo nghề cho người lao động trước khi chuyển người lao động sang làm nghề, công việc khác; không ký kết hợp đồng đào tạo nghề đối với người học nghề, tập nghề; không trả lương cho người học nghề trong thời gian họ học nghề, tập nghề mà trực tiếp hoặc tham gia lao động làm ra sản phẩm hợp quy cách; không tiến hành ký kết hợp đồng lao động đối với người học nghề, người tập nghề khi hết thời hạn học nghề, tập nghề, theo một trong các mức sau đây:

a) Từ 500.000 đồng đến 2.000.000 đồng với vi phạm từ 01 người đến 10 người lao động;

b) Từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng với vi phạm từ 11 người đến 50 người lao động;

c) Từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng với vi phạm từ 51 người đến 100 người lao động;

d) Từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng với vi phạm từ 101 người đến 300 người lao động;

đ) Từ 15.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng với vi phạm từ 301 người lao động trở lên.

Điều 26. Vi phạm quy định về đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp

“1. Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với người lao động có hành vi thỏa thuận với người sử dụng lao động không tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp hoặc tham gia không đúng mức quy định.”

2. Phạt tiền với mức từ 12% đến 15% tổng số tiền phải đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp tại thời điểm lập biên bản vi phạm hành chính nhưng tối đa không quá 75.000.000 đồng đối với người sử dụng lao động có một trong các hành vi sau đây:

a) Chậm đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp;

b) Đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp không đúng mức quy định;

c) Đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp không đủ số người thuộc diện tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp.

3. Phạt tiền với mức từ 18% đến 20% tổng số tiền phải đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp tại thời điểm lập biên bản vi phạm hành chính nhưng tối đa không quá 75.000.000 đồng đối với người sử dụng lao động không đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp cho toàn bộ người lao động thuộc diện tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp.

4. Biện pháp khắc phục hậu quả:

a) Buộc truy nộp số tiền bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp chưa đóng, chậm đóng đối với hành vi vi phạm quy định tại Khoản 1, Khoản 2 và Khoản 3 Điều này;

b) Buộc đóng số tiền lãi của số tiền bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp chưa đóng, chậm đóng theo mức lãi suất của hoạt động đầu tư từ Quỹ bảo hiểm xã hội trong năm đối với vi phạm quy định tại Khoản 2 và Khoản 3 Điều này.

Trên đây là nội dung tư vấn của Luật Sư Toàn Quốc về vấn đề bạn hỏi và quan tâm. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ cần luật sư giải đáp, bạn vui lòng gọi đến Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến của chúng tôi – Số điện thoại liên hệ: 0926 220 286 để được hỗ trợ kịp thời.

0/5 (0 Reviews)

Leave a Comment

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *