Đảm bảo cạnh tranh trong đấu thầu

Trường hợp nào bị coi là vi phạm nguyên tắc đảm bảo cạnh tranh trong đấu thầu? Nếu công ty B có phần vốn góp vào công ty A với tỷ lệ 51% và công ty B với chủ thầu là hai đơn vị thuộc một Tập đoàn kinh tế nhà nước thì khi chủ thầu mời thầu dự án, công ty A có được tham gia dự thầu hay không? Việc công ty A tham gia đấu thầu có coi là không đảm bảo cạnh tranh trong đấu thầu hay không? Luật Sư Toàn Quốc tư vấn như sau:

Nội dung tư vấn: Xin kính chào Luật sư. Em có một thắc mắc xin ý kiến của Luật sư về việc đảm bảo cạnh tranh trong đấu thầu. Công ty em (Công ty A, nhà thầu) tham gia một gói thầu do chủ đầu tư tổ chức nhưng họ đánh giá bên em không đảm bảo cạnh trang trong đấu thầu nên loại bỏ hồ sơ và đánh trượt hồ sơ dự thầu của bên em. Tình tiết cụ thể như sau:

– Chủ đầu tư có thuê đơn vị tư vấn lập dự án đầu tư, lập thiết kế bản vẽ thi công, thiết kế kỹ thuật và tư vấn cho gói thầu mà công ty A đã tham dự với công ty B (mặt khác công ty B là công ty có cổ phần góp vốn với công ty A – là công ty em với tỷ lệ là 51%).

– Công ty B và chủ đầu tư là hai đơn vị cùng thuộc một Tập đoàn kinh tế nhà nước.

– Sản phẩm đầu ra của công ty A là tư vấn giám sát.

– Gói thầu của chủ đầu tư là yêu cầu về tư vấn giám sát.

Vậy em xin được hỏi luật sư là Chủ đầu tư đánh giá và loại hồ sơ dự thầu của bên em là công ty A là đúng hay sai?

Em xin trân trọng cảm ơn và mong sớm nhận được câu trả lời của Luật sư.

Trả lời tư vấn: Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đề nghị tư vấn đến Công ty Luật Sư Toàn Quốc, trường hợp của bạn chúng tôi tư vấn như sau:

Theo quy định tại Điều 6 Luật Đấu thầu 2013 về việc Bảo đảm cạnh tranh trong đấu thầu như sau:

“1. Nhà thầu nộp hồ sơ quan tâm, hồ sơ dự sơ tuyển phải độc lập về pháp lý và độc lập về tài chính với các nhà thầu tư vấn lập hồ sơ mời quan tâm, hồ sơ mời sơ tuyển; đánh giá hồ sơ quan tâm, hồ sơ dự sơ tuyển; thẩm định kết quả mời quan tâm, kết quả sơ tuyển.

2. Nhà thầu tham dự thầu phải độc lập về pháp lý và độc lập về tài chính với các bên sau đây:

a) Chủ đầu tư, bên mời thầu;

b) Các nhà thầu tư vấn lập, thẩm tra, thẩm định hồ sơ thiết kế, dự toán; lập, thẩm định hồ sơ mời thầu, hồ sơ yêu cầu; đánh giá hồ sơ dự thầu, hồ sơ đề xuất; thẩm định kết quả lựa chọn nhà thầu gói thầu đó;

c) Các nhà thầu khác cùng tham dự thầu trong một gói thầu đối với đấu thầu hạn chế.

3. Nhà thầu tư vấn giám sát thực hiện hợp đồng phải độc lập về pháp lý và độc lập về tài chính với nhà thầu thực hiện hợp đồng, nhà thầu tư vấn kiểm định gói thầu đó.

4. Nhà đầu tư tham dự thầu phải độc lập về pháp lý và độc lập về tài chính với các bên sau đây:

a) Nhà thầu tư vấn đấu thầu đối với dự án đầu tư theo hình thức đối tác công tư, dự án đầu tư có sử dụng đất cho đến ngày ký kết hợp đồng dự án;

b) Nhà thầu tư vấn thẩm định dự án đầu tư theo hình thức đối tác công tư, dự án đầu tư có sử dụng đất cho đến ngày ký kết hợp đồng dự án;

c) Cơ quan nhà nước có thẩm quyền, bên mời thầu.

5. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.”

Đồng thời, Khoản 4 Điều 2 Nghị định 63/2014/NĐ-CP quy định về Nhà thầu được đánh giá độc lập về tài chính với các nhà thầu khác; với nhà thầu tư vấn; với chủ đầu tư, bên mời thầu nếu đáp ứng các điều kiện như sau:

“…

4. Nhà thầu được đánh giá độc lập về pháp lý và độc lập về tài chính với nhà thầu khác; với nhà thầu tư vấn; với chủ đầu tư, bên mời thầu quy định tại các Khoản 1, 2 và 3 Điều 6 của Luật Đấu thầu khi đáp ứng các điều kiện sau đây:

a) Không cùng thuộc một cơ quan hoặc tổ chức trực tiếp quản lý đối với đơn vị sự nghiệp;

b) Nhà thầu với chủ đầu tư, bên mời thầu không có cổ phần hoặc vốn góp trên 30% của nhau;

c) Nhà thầu không có cổ phần hoặc vốn góp trên 20% của nhau khi cùng tham dự thầu trong một gói thầu đối với đấu thầu hạn chế;

d) Nhà thầu tham dự thầu với nhà thầu tư vấn cho gói thầu đó không có cổ phần hoặc vốn góp của nhau; không cùng có cổ phần hoặc vốn góp trên 20% của một tổ chức, cá nhân khác với từng bên.

…”

Vậy, nếu công ty bạn đáp ứng đủ các điều kiện nêu trên mà chủ đầu tư vẫn loại hồ sơ dự thầu của bạn do không đảm bảo cạnh tranh là không đủ cơ sở theo quy định của pháp luật.

Trên đây là nội dung tư vấn của Luật Sư Toàn Quốc về vấn đề bạn yêu cầu tư vấn. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ qua Email hoặc gọi điện đến bộ phận luật sư tư vấn trực tuyến để được giải đáp, hỗ trợ kịp thời.

0/5 (0 Reviews)

Leave a Comment

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *