Điều kiện nhận trợ cấp thôi việc như thế nào?

Tôi bắt đầu làm việc cho công ty cũ từ ngày 28/12/2015 đến hết ngày 31/03/2018 thì nghỉ việc, ngày chính thức nghỉ việc là ngày 01/04/2018. Từ 28/12/2015 đến hết 31/05/2016 tôi làm việc với chức danh cộng tác viên nên công ty không có đóng bảo hiểm xã hội cho tôi, từ 01/06/2016 đến hết 30/08/2016 công ty bắt tôi thử việc 2 tháng cho vị trí nhân viên chính thức và ngày 01/09/2016 tôi chính thức ký hợp đồng lao động.

Nội dung tư vấn: Trong trường hợp của tôi thì có được nhận trợ cấp thôi việc không, và nếu có thì được tính như thế nào? Rất mong nhận được câu trả lời của luật sư để tôi hiểu rõ hơn quyền lợi của mình .Trân trọng !

Trả lời: Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi tư vấn đến công ty Luật Sư Toàn Quốc. Với trường hợp của bạn, công ty tư vấn như sau:

Để biết được bạn có được nhận trợ cấp thôi việc không thì phải xem việc bạn chấm dứt hợp đồng lao động có thuộc trường hợp được nhận trợ cấp thôi việc không theo quy định tại Điều 48 Bộ luật lao động 2012 về trợ cấp thôi việc như sau:

“Điều 48. Trợ cấp thôi việc

1. Khi hợp đồng lao động chấm dứt theo quy định tại các khoản 1, 2, 3, 5, 6, 7, 9 và 10 Điều 36 của Bộ luật này thì người sử dụng lao động có trách nhiệm chi trả trợ cấp thôi việc cho người lao động đã làm việc thường xuyên từ đủ 12 tháng trở lên, mỗi năm làm việc được trợ cấp một nửa tháng tiền lương.

2. Thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc là tổng thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động trừ đi thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội và thời gian làm việc đã được người sử dụng lao động chi trả trợ cấp thôi việc.

3. Tiền lương để tính trợ cấp thôi việc là tiền lương bình quân theo hợp đồng lao động của 06 tháng liền kề trước khi người lao động thôi việc.”

Căn cứ theo quy định trên thì các trường hợp hợp đồng lao động chấm dứt người sử dụng lao động phải chi trả trợ cấp thôi việc cho người lao động như sau:

“Điều 36. Các trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động

1. Hết hạn hợp đồng lao động, trừ trường hợp quy định tại khoản 6 Điều 192 của Bộ luật này.

2. Đã hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động.

3. Hai bên thoả thuận chấm dứt hợp đồng lao động.

5. Người lao động bị kết án tù giam, tử hình hoặc bị cấm làm công việc ghi trong hợp đồng lao động theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Toà án.

6. Người lao động chết, bị Toà án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc là đã chết.

7. Người sử dụng lao động là cá nhân chết, bị Toà án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc là đã chết; người sử dụng lao động không phải là cá nhân chấm dứt hoạt động.

9. Người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại Điều 37 của Bộ luật này.

10. Người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại Điều 38 của Bộ luật này; người sử dụng lao động cho người lao động thôi việc do thay đổi cơ cấu, công nghệ hoặc vì lý do kinh tế hoặc do sáp nhật, hợp nhất, chia tách doanh nghiệp, hợp tác xã.”

Như vậy nếu hợp đồng chấm dứt trong các trường hợp trên thì bạn sẽ được hưởng trợ cấp thôi việc vì thời gian làm việc của bạn đã đủ 12 tháng. Thời gian được tính để hưởng trợ cấp thôi việc được tính là thời gian làm việc thực tế  trừ đi  thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp và thời gian đã được chi trả trợ cấp thôi việc. Trong đó thời gian làm việc thực tế được xác định tại điểm a, Khoản 3 Điều 14 Nghị định 05/2015/NĐ-CP. Cụ thể:

“Thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động bao gồm: thời gian người lao động đã làm việc cho người sử dụng lao động; thời gian thử việc, học nghề, tập nghề để làm việc cho người sử dụng lao động; thời gian được người sử dụng lao động cử đi học; thời gian nghỉ hưởng chế độ theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội; thời gian nghỉ hằng tuần theo Điều 110, nghỉ việc hưởng nguyên lương theo các Điều 111, Điều 112, Điều 115 và Khoản 1 Điều 116 của Bộ luật Lao động; thời gian nghỉ để hoạt động công đoàn theo quy định của pháp luật về công đoàn; thời gian phải ngừng việc, nghỉ việc không do lỗi của người lao động; thời gian nghỉ vì bị tạm đình chỉ công việc và thời gian bị tạm giữ, tạm giam nhưng được trở lại làm việc do được cơ quan nhà nước có thẩm quyền kết luận không phạm tội;”

Theo đó, thời gian thử việc cũng được tính là thời gian người lao động làm việc thực tế cho người sử dụng lao động. Trong trường hợp của bạn, bạn có thời gian thử việc 2 tháng và bạn sẽ được hưởng trợ cấp thôi việc cho 2 tháng thử việc này tương ứng với 1/4 tiền lương bình quân theo hợp đồng lao động của 06 tháng liền kề trước khi bạn thôi việc. Và về thời gian làm việc chính thức theo hợp đồng lao động đã được tham gia bảo hiểm thất nghiệp nên bạn sẽ không được hưởng trợ cấp thôi việc cho khoảng thời gian này. Từ ngày 28/12/2015 đến hết ngày 31/05/2016 bạn làm việc với chức danh cộng tác viên thì có thể được xem xét là quan hệ khác mà không phải là quan hệ lao động nên không thể tính vào thời gian để tính trợ cấp thôi việc.

Trên đây là nội dung tư vấn của Luật Sư Toàn Quốc về vấn đề bạn hỏi và quan tâm. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ cần luật sư giải đáp, bạn vui lòng gọi đến Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến của chúng tôi – Số điện thoại liên hệ: 0926 220 286 để được hỗ trợ kịp thời.

0/5 (0 Reviews)

Leave a Comment

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *