Khi thôi việc có được thanh toán những ngày phép năm chưa nghỉ hay không?

Khi thôi việc có được thanh toán những ngày phép năm chưa nghỉ hay không?

Luật sư tư vấn về trách nhiệm của phía người sử dụng lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái luật và thanh toán ngày nghỉ phép năm. Nội dung tư vấn như sau:

Xin chào luật sư. Cho e hỏi về một vấn đề như sau. Em có làm Trưởng nhóm SX cho một công ty vốn đầu tư của Nhật, do người việt làm giám đốc điều hành. Đầu  tháng 2 năm 2017, vợ e sinh đôi đẻ mổ ở BV. Theo quy định e được nghỉ 14 ngày, tuy nhiên khi xin cty đã không cho e nghỉ và nói rằng vtri của e không nghỉ được, nếu nghỉ sẽ chuyển e về phòng kthuat. Do vợ đẻ non lại không có người chăm sóc, nên e vẫn quyết định nghỉ. Cuối cùng công  ty vẫn phải cho e nghỉ. Trong thời gian đó e vẫn tới cty làm việc theo vị trí trách nhiệm khoảng 4 ngày không được hưởng lương. Sau đó e đã xin nghỉ việc tại công ty, do hợp đồng của e là vô thời hạn nên e phải làm 40 ngày. Tuy nhiên, con e sau khi đầy tháng phải đi mổ ở hà nội. E đến xin nghỉ 2 hôm và xin sẽ làm bù sau. Tuy nhiên giám đốc cty không cho e nghỉ như vậy và nói” chú coi cty là cái chợ mà thích nghỉ thì nghỉ, cty cho chú nghỉ luôn”. Sau đó 9/3/2017, e nhận được quyêt định thôi việc. Do vậy cho e hỏi về quyền lợi của em được hưởng khi công ty cho em nghỉ việc như vậy gồm những gì và ngày phép năm của em chưa hưởng có được thanh toán không?

Trả lời: Cảm ơn bạn đã tin tưởng gửi yêu cầu tư vấn đến công ty Luật Sư Toàn Quốc, với vụ việc của bạn chúng tôi có quan điểm tư vấn như sau:

Căn cứ theo quy định tại điều 38 Bộ luật lao động năm 2012 có nội dung sau:

Điều 38. Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người sử dụng lao động

1. Người sử dụng lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trong những trường hợp sau đây:

a) Người lao động thường xuyên không hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động;

2. Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động người sử dụng lao động phải báo cho người lao động biết trước:

a) Ít nhất 45 ngày đối với hợp đồng lao động không xác định thời hạn;

b) Ít nhất 30 ngày đối với hợp đồng lao động xác định thời hạn;

c) Ít nhất 03 ngày làm việc đối với trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều này và đối với hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng

…..

Như vậy công ty chỉ được đơn phương chấm dứt hợp đồng với người lao động khi có những lý do tại quy định trên. Đối chiếu với trường hợp của bạn nếu đơn vị bạn không có những lý do trên mà ra quyết định chấm dứt hợp đồng với bạn thì sẽ là đơn phương chấm dứt hợp đồng trái luật.

Theo quy định tại điều 42 BLLĐ năm 2012 thì khi công ty ra quyết định đơn phương chấm dứt hợp đồng trái  luật công ty sẽ phải có những trách nhiệm sau:

Thứ nhất, phải nhận người lao động trở lại làm việc theo hợp đồng đã giao kết và phải trả tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế trong những ngày người lao động không được làm việc cộng với ít nhất 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.

Thứ hai, Trường hợp người lao động không muốn tiếp tục làm việc, thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này người sử dụng lao động phải trả trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 48 của BLLĐ, cụ thể: Khi hợp đồng lao động chấm dứt theo quy định tại các khoản 1, 2, 3, 5, 6, 7, 9 và 10 Điều 36 của Bộ Luật lao động 2012 thì người sử dụng lao động có trách nhiệm chi trả trợ cấp thôi việc cho người lao động đã làm việc thường xuyên từ đủ 12 tháng trở lên, mỗi năm làm việc được trợ cấp một nửa tháng tiền lương.

Thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc là tổng thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động trừ đi thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội và thời gian làm việc đã được người sử dụng lao động chi trả trợ cấp thôi việc.

Tiền lương để tính trợ cấp thôi việc là tiền lương bình quân theo hợp đồng lao động của 06 tháng liền kề trước khi người lao động thôi việc.

Thứ ba, Nếu người sử dụng lao động không muốn nhận lại người lao động và người lao động đồng ý, thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này và trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 48 của Bộ luật này, hai bên thỏa thuận khoản tiền bồi thường thêm nhưng ít nhất phải bằng 02 tháng lương theo hợp đồng lao động để chấm dứt hợp đồng lao động.

Thứ tư, Trong trường hợp không còn vị trí, công việc đã giao kết trong hợp đồng lao động mà người lao động vẫn muốn làm việc thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này, hai bên thương lượng để sửa đổi, bổ sung hợp đồng lao động.

Thứ năm, Trường hợp vi phạm quy định về thời hạn báo trước thì phải bồi thường cho người lao động một khoản tiền tương ứng với tiền lương của người lao động trong những ngày không báo trước.

 Thứ hai, tại điều 114 Bộ luật lao động năm 2012 có quy định về việc thanh toán ngày nghỉ phép năm như sau:

Điều 114. Thanh toán tiền lương những ngày chưa nghỉ

1. Người lao động do thôi việc, bị mất việc làm hoặc vì các lý do khác mà chưa nghỉ hằng năm hoặc chưa nghỉ hết số ngày nghỉ hằng năm thì được thanh toán bằng tiền những ngày chưa nghỉ.

2. Người lao động có dưới 12 tháng làm việc thì thời gian nghỉ hằng năm được tính theo tỷ lệ tương ứng với số thời gian làm việc. Trường hợp không nghỉ thì được thanh toán bằng tiền.

Tức là nếu như bạn do thôi việc mà chưa nghỉ hàng năm hoặc chưa nghỉ hết số ngày nghỉ hàng năm thì sẽ được thanh toán bằng tiền những ngày mà bạn chưa nghỉ. 

Trên đây là nội dung tư vấn của Luật Sư Toàn Quốc về vấn đề bạn hỏi và quan tâm. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ cần luật sư giải đáp, bạn vui lòng gọi đến Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến của chúng tôi – Số điện thoại liên hệ: 0926 220 286 để được hỗ trợ kịp thời.

Trân trọng.

CV tư vấn: Hà Tuyền . – Luật Sư Toàn Quốc

0/5 (0 Reviews)

Leave a Comment

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *