Ký kết HĐLĐ và chi trả lương với người lao động cao tuổi thế nào?

Ký kết HĐLĐ và chi trả lương với người lao động cao tuổi thế nào?

Người nào được xác định là người lao động cao tuổi? Pháp luật lao động hiện hành quy định như thế nào về việc giao kết hợp đồng lao động với người lao động cao tuổi? Quyền và nghĩa vụ của người lao động cao tuổi trong quan hệ lao động? Người sử dụng lao động cần lưu ý gì khi kí hợp đồng với người lao động cao tuổi?

1. Luật sư tư vấn hợp đồng lao động với người lao động cao tuổi

Trong giai đoạn phát triển kinh tế – xã hội của Việt Nam hiện nay, số lượng người cao tuổi ngày càng tăng lên, do đó chính sách đối với người lao động cao tuổi đóng vai trò vô cùng quan trọng. Người lao động cao tuổi được xác định là người tiếp tục lao động sau độ tuổi nghỉ hưu theo quy định pháp luật. Khi người lao động cao tuổi tham gia quan hệ lao động, họ phải đối mặt với nhiều nguy cơ, rủi ro cao hơn người lao động khác, đặc biệt về vấn đề sức khỏe. Do đó, khi doanh nghiệp muốn giao kết hợp đồng lao động với người lao động cao tuổi thì các bên phải tìm hiểu kỹ và nắm rõ quy định của Bộ luật lao động hiện hành cũng như các văn bản hướng dẫn thi hành.

Trường hợp bạn hoặc công ty bạn gặp vướng mắc liên quan đến việc giao kết hợp đồng lao động với người lao động cao tuổi thì bạn có thể gửi câu hỏi đến Luật Sư Toàn Quốc hoặc gọi Hotline0926 220 286 để được chúng tôi hỗ trợ.

Ngoài ra, bạn có thể tham khảo tình huống chúng tôi tư vấn sau đây để có thêm kiến thức bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

2. Ký kết HĐLĐ và chi trả lương với người lao động cao tuổi như thế nào?

Nội dung câu hỏi: Xin chào VP Luật Sư Toàn Quốc, Xin cho tôi hỏi, Công ty tôi hiện đang kí hợp đồng lao động với 2 người đã về hưu. Tôi thấy trong khoản 3, điều 186, Luật lao động có đề cập: “3. Đối với người lao động không thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm y tế bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp thì ngoài việc trả lương theo công việc, người sử dụng lao động có trách nhiệm chi trả thêm cùng lúc với kỳ trả lương của người lao động một khoản tiền cho người lao động tương đương với mức đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp và tiền nghỉ phép hằng năm theo quy định.” Xin tư vấn làm rõ giúp Công ty tôi khoản chi trả thêm cùng lúc với kỳ lương của người lao động một khoản tiền cho người lao động tương đươg với mức đóng bảo hiểm XH, YT, TN và tiền nghỉ phép hàng năm là như thế nào? Khoản này có chịu thuế TNCN hay không? Và với hợp đồng thử việc và hợp đồng thời vụ, không đóng bảo hiểm thì có phải chi trả thêm như nội dung trên hay không? Mong VP Luật tư vấn giúp. Xin cảm ơn

Trả lời: Cám ơn bạn dã gửi câu hỏi đến công ty Luât Toàn Quốc, với câu hỏi của bạn, chúng tôi xin trả lời như sau:

Tại Khoản 3 Điều 186 Bộ luật lao động 2012 quy định ”  Đối với người lao động không thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm y tế bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp thì ngoài việc trả lương theo công việc, người sử dụng lao động có trách nhiệm chi trả thêm cùng lúc với kỳ trả lương của người lao động một khoản tiền cho người lao động tương đương với mức đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp và tiền nghỉ phép hằng năm theo quy định.’

Quy định này được hiểu như sau:  Người sử dụng lao động, người lao động phải tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm y tế bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp và được hưởng các chế độ theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội và pháp luật về bảo hiểm y tế.

Hằng tháng,  Doanh nghiệp đóng cho người lao động và trích từ tiền lương tháng của người lao động để đóng cùng một lúc vào Qũy BHYT, BHXH, BHTN, BHTNLĐ, BNN với mức là 32%( trong đó DN bỏ ra 21,5 % vào người lao động bỏ ra 10,5 %)

Như vây trong trường hợp người lao động đã được hưởng lương hưu thì Doanh nghiệp không cần đóng các loại Bảo hiểm cho người lao động nhưng họ vẫn  được hưởng quyền lợi này, nên hàng tháng người chủ sử dụng lao động sẽ bỏ ra 21,5% trên tiền lương tháng của người lao động để cộng trực tiếp cho người lao động mà không cần đóng vào Qũy BHXH, BHYT, BHTN, BHTNLĐ, BNN

Theo Khoản 1 Điều 3 Bộ luật lao động 2012 xác định Người lao động là người từ đủ 15 tuổi trở lên, có khả năng lao động, làm việc theo hợp đồng lao động, được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành của người sử dụng lao động. Như vậy, nếu người lao động làm việc teo mùa vụ sẽ thuộc đối tượng được thuộc Khoản 3 Điều 186 Bộ luật lao động 2012, còn người đnag trong hợp đồng thử việc thì sẽ không thuộc đối tượng này vì họ chưa được xác định là người lao động

Theo Điều 3 Luật thuế thu nhập cá nhân 2007, sửa đổi bổ sung 2012 thì Thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân gồm các loại thu nhập sau đây:

“…Thu nhập từ tiền lương, tiền công, bao gồm: 

a) Tiền lương, tiền công và các khoản có tính chất tiền lương, tiền công; 

b) Các khoản phụ cấp, trợ cấp, trừ các khoản: phụ cấp, trợ cấp theo quy định của pháp luật về ưu đãi người có công; phụ cấp quốc phòng, an ninh; phụ cấp độc hại, nguy hiểm đối với ngành, nghề hoặc công việc ở nơi làm việc có yếu tố độc hại, nguy hiểm; phụ cấp thu hút, phụ cấp khu vực theo quy định của pháp luật; trợ cấp khó khăn đột xuất, trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, trợ cấp một lần khi sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi, trợ cấp do suy giảm khả năng lao động, trợ cấp hưu trí một lần, tiền tuất hàng tháng và các khoản trợ cấp khác theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội; trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm theo quy định của Bộ luật lao động; trợ cấp mang tính chất bảo trợ xã hội và các khoản phụ cấp, trợ cấp khác không mang tính chất tiền lương, tiền công theo quy định của Chính phủ.

c) Tiền thù lao dưới các hình thức;

d) Tiền nhận được từ tham gia hiệp hội kinh doanh, hội đồng quản trị, ban kiểm soát, hội đồng quản lý và các tổ chức;

đ) Các khoản lợi ích khác mà đối tượng nộp thuế nhận được bằng tiền hoặc không bằng tiền;

e) Tiền thưởng, trừ các khoản tiền thưởng kèm theo các danh hiệu được Nhà nước phong tặng, tiền thưởng kèm theo giải thưởng quốc gia, giải thưởng quốc tế, tiền thưởng về cải tiến kỹ thuật, sáng chế, phát minh được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận, tiền thưởng về việc phát hiện, khai báo hành vi vi phạm pháp luật với cơ quan nhà nước có thẩm quyền.”

Nên các khoản tiền được chi trả thêm này vẫn thuộc đối tượng đóng thuế TNCN.

Trên đây là nội dung tư vấn của Luật Sư Toàn Quốc về vấn đề bạn hỏi và quan tâm. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ cần luật sư giải đáp, bạn vui lòng gọi đến Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến của chúng tôi – Số điện thoại liên hệ: 0926 220 286 để được hỗ trợ kịp thời.

0/5 (0 Reviews)

Leave a Comment

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *