Một số thắc mắc về bảo hiểm xã hội và tiền thưởng theo quy định hiện hành

Một số thắc mắc về bảo hiểm xã hội và tiền thưởng theo quy định hiện hành

Luật sư tư vấn về một số vấn đề như đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội, trách nhiệm của người sử dụng lao động khi người lao động bị tai nạn lao động nhưng công ty không đóng bảo hiểm xã hội và khoản tiền thưởng.

Nội dung câu hỏi: Tôi muốn nhờ luật sư tư vấn giùm là lúc trước tôi có đi làm bảo vệ cho chuỗi cửa hàng concưng, khi tôi vào làm và trong hợp đồng có ghi rõ là khi vào làm sẽ có chế độ bảo hiểm đầy đủ, nhưng tôi làm được 5 tháng vẫn chưa thấy có bảo hiểm, tôi có hỏi thì bên họ trả lời làm trên 6 tháng mới có bảo hiểm, gần đây trên đường đi làm về tôi đã bị tai nạn xe, tính đến thời điểm bị tai nạn thì tôi đã làm được hơn 6 tháng nhưng vẫn chưa có bảo hiểm nên mọi chi phí điều trị tôi phải tự lo liệu, như vậy tôi có thể kiện bên cửa hàng không? Và theo thông báo của công ty thì những ai nghỉ trước tháng 12 sẽ không có lương thưởng tháng 13 nhưng đến ngày 21/1 tôi bị tai nạn và bên cửa hàng cho tôi nghỉ nhưng không có lương tháng 13 là đúng hay sai? 

Trả lời: Cảm ơn bạn đã tin tưởng gửi yêu cầu tư vấn đến Luật Sư Toàn Quốc, trường hợp của bạn chúng tôi tư vấn như sau:

Thứ nhất về vấn đề tham gia bảo hiểm xã hội

Căn cứ Điều 2 Luật bảo hiểm xã hội năm 2014 quy định về đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội:

“1. Người lao động là công dân Việt Nam thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, bao gồm:

a) Người làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, hợp đồng lao động xác định thời hạn, hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn từ đủ 03 tháng đến dưới 12 tháng, kể cả hợp đồng lao động được ký kết giữa người sử dụng lao động với người đại diện theo pháp luật của người dưới 15 tuổi theo quy định của pháp luật về lao động;

b) Người làm việc theo hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 01 tháng đến dưới 03 tháng;…”

Theo quy định từ thời điểm ngày 1/1/2018 thì người tham gia hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 1 tháng đến dưới 3 tháng thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc. Nếu bạn tham gia ký kết hợp đồng với công ty mà đã làm được 5 tháng nhưng công ty chưa đóng bảo hiểm xã hội cho bạn là trái quy định trên. Bạn có quyền yêu cầu công ty thực hiện đúng quy định pháp luật về vấn đề khai báo đóng BHXH.

Thứ hai, trách nhiệm của người sử dụng lao động với trường hợp người lao động bị tai nạn lao động nhưng không tham gia bảo hiểm xã hội cho người lao động.

Căn cứ Điều 45 Luật vệ sinh an toàn lao động năm 2015 quy định về điều kiện hưởng chế độ tai lao động:

“Người lao động tham gia bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp được hưởng chế độ tai nạn lao động khi có đủ các điều kiện sau đây:

1. Bị tai nạn thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Tại nơi làm việc và trong giờ làm việc, kể cả khi đang thực hiện các nhu cầu sinh hoạt cần thiết tại nơi làm việc hoặc trong giờ làm việc mà Bộ luật lao động và nội quy của cơ sở sản xuất, kinh doanh cho phép, bao gồm nghỉ giải lao, ăn giữa ca, ăn bồi dưỡng hiện vật, làm vệ sinh kinh nguyệt, tắm rửa, cho con bú, đi vệ sinh;

b) Ngoài nơi làm việc hoặc ngoài giờ làm việc khi thực hiện công việc theo yêu cầu của người sử dụng lao động hoặc người được người sử dụng lao động ủy quyền bằng văn bản trực tiếp quản lý lao động;

c) Trên tuyến đường đi từ nơi ở đến nơi làm việc hoặc từ nơi làm việc về nơi ở trong khoảng thời gian và tuyến đường hợp lý;

2. Suy giảm khả năng lao động từ 5% trở lên do bị tai nạn quy định tại khoản 1 Điều này;” 

Nếu bạn bị tai nạn trên tuyến đường đi hợp lý từ nơi làm việc về nhà, không do lỗi của mình gây ra và có mức độ suy giảm khả năng lao động từ 5% trở lên thì sẽ đủ điều kiện hưởng chế độ tai nạn lao động.

Căn cứ Điều 38 Luật an toàn vệ sinh lao động năm 2015 quy định về trách nhiệm của người sử dụng lao động đối với người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp:

“Người sử dụng lao động có trách nhiệm đối với người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp như sau:

1. Kịp thời sơ cứu, cấp cứu cho người lao động bị tai nạn lao động và phải tạm ứng chi phí sơ cứu, cấp cứu và điều trị cho người lao động bị tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp;

2. Thanh toán chi phí y tế từ khi sơ cứu, cấp cứu đến khi điều trị ổn định cho người bị tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp như sau:

a) Thanh toán phần chi phí đồng chi trả và những chi phí không nằm trong danh mục do bảo hiểm y tế chi trả đối với người lao động tham gia bảo hiểm y tế;

b) Trả phí khám giám định mức suy giảm khả năng lao động đối với những trường hợp kết luận suy giảm khả năng lao động dưới 5% do người sử dụng lao động giới thiệu người lao động đi khám giám định mức suy giảm khả năng lao động tại Hội đồng giám định y khoa;

c) Thanh toán toàn bộ chi phí y tế đối với người lao động không tham gia bảo hiểm y tế;

3. Trả đủ tiền lương cho người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp phải nghỉ việc trongthời gian điều trị, phục hồi chức năng lao động;

4. Bồi thường cho người lao động bị tai nạn lao động mà không hoàn toàn do lỗi của chính người này gây ra và cho người lao động bị bệnh nghề nghiệp với mức như sau:

a) Ít nhất bằng 1,5 tháng tiền lương nếu bị suy giảm từ 5% đến 10% khả năng lao động; sau đó cứ tăng 1% được cộng thêm 0,4 tháng tiền lương nếu bị suy giảm khả năng lao động từ 11% đến 80%;

b) Ít nhất 30 tháng tiền lương cho người lao động bị suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên hoặc cho thân nhân người lao động bị chết do tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp;

5. Trợ cấp cho người lao động bị tai nạn lao động mà do lỗi của chính họ gây ra một khoản tiền ít nhất bằng 40% mức quy định tại khoản 4 Điều này với mức suy giảm khả năng lao động tương ứng;

6. Giới thiệu để người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp được giám định y khoa xác định mức độ suy giảm khả năng lao động, được điều trị, điều dưỡng, phục hồi chức năng lao động theo quy định pháp luật;

7. Thực hiện bồi thường, trợ cấp đối với người bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp trong thời hạn 05 ngày, kể từ ngày có kết luận của Hội đồng giám định y khoa về mức suy giảm khả năng lao động hoặc kể từ ngày Đoàn điều tra tai nạn lao động công bố biên bản điều tra tai nạn lao động đối với các vụ tai nạn lao động chết người;

8. Sắp xếp công việc phù hợp với sức khỏe theo kết luận của Hội đồng giám định y khoa đối với người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp sau khi điều trị, phục hồi chức năng nếu còn tiếp tục làm việc;

9. Lập hồ sơ hưởng chế độ về tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp từ Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp theo quy định tại Mục 3 Chương này;…”

Căn cứ Khoản 2 và Khoản 4 Điều 39 Luật an toàn vệ sinh lao động năm 2015 quy định về trách nhiệm của người sử dụng lao động về bồi thường, trợ cấp trong những trường hợp đặc thù khi người lao động bị tai nạn lao động:

“2. Trường hợp người lao động bị tai nạn khi đi từ nơi ở đến nơi làm việc hoặc từ nơi làm việc về nơi ở theo tuyến đường và thời gian hợp lý, nếu do lỗi của người khác gây ra hoặc không xác định được người gây ra tai nạn thì người sử dụng lao động trợ cấp cho người lao động theo quy định tại khoản 5 Điều 38 của Luật này.

4. Nếu người sử dụng lao động không đóng bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp cho người lao động thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội, thì ngoài việc phải bồi thường, trợ cấp theo quy định tại Điều 38 của Luật này, người sử dụng lao động phải trả khoản tiền tương ứng với chế độ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp theo quy định tại Mục 3 Chương này khi người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; việc chi trả có thể thực hiện một lần hoặc hằng tháng theo thỏa thuận của các bên, trường hợp không thống nhất thì thực hiện theo yêu cầu của người lao động.”

Theo quy định tại Điều 38 luật an toàn về sinh trường hợp bạn bị tai nạn được xác định là tai nạn lao động thì công ty phải thực hiện trách nhiệm theo quy định tại Điều 38 Luật an toàn vệ sinh lao động 2015. Công ty không tham gia bảo hiểm tai nạn lao động cho bạn thì phải có trách nhiệm trả cho bạn một khoản tiền tương ứng với chế độ tai nạn lao động mà bạn được hưởng theo quy định. Bạn có quyền gửi đơn khiếu nại tới Phòng Lao động -Thương binh và xã hội hoặc khởi kiện ra Tòa án nhân dân huyện nơi công ty có trụ sở khi công ty không thực hiện giải quyết các chế độ cho bạn.

Thứ ba, công ty không thưởng cho bạn là đúng hay sai?

Căn cứ Điều 103 Bộ luật lao động năm 2012 quy định về tiền thưởng:

“1. Tiền thưởng là khoản tiền mà người sử dụng lao động thưởng cho người lao động căn cứ vào kết quả sản xuất kinh doanh hằng năm và mức độ hoàn thành công việc của người lao động.

2. Quy chế thưởng do người sử dụng lao động quyết định và công bố công khai tại nơi làm việc sau khi tham khảo ý kiến của tổ chức đại diện tập thể lao động tại cơ sở.”

Lương tháng 13 là khoản tiền ngoài lương và các chế độ khác được xác định là khoản tiền thưởng theo quy định tại Điều 103 Bộ luật lao động 2012. Việc thưởng căn cứ vào kết quả sản xuất của công ty và mức độ hoàn thành công việc của người lao động. Bạn có được thưởng hay không thì phải xét hai điều kiện trên, nếu thấy trường hợp của mình đủ điều kiện nhưng không được thưởng thì có thể gửi đơn khiếu nại yêu cầu công ty để được giải quyết. Nếu công ty không giải quyết hoặc giải quyết không thỏa đáng thì có thể yêu cầu Phòng Lao động – Thương binh và xã hội nơi công ty có trụ sở giải quyết.

Trên đây là nội dung tư vấn của Luật Sư Toàn Quốc về vấn đề bạn hỏi và quan tâm. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ cần luật sư giải đáp, bạn vui lòng gọi đến Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến của chúng tôi – Số điện thoại liên hệ: 0926 220 286 để được hỗ trợ kịp thời.

Trân trọng.
CV tư vấn: Nông Diệp – Luật Sư Toàn Quốc

0/5 (0 Reviews)

Leave a Comment

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *