Người lao động đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi có thuộc trường hợp tinh giản biên chế?

Người lao động đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi có thuộc trường hợp tinh giản biên chế?

Em là nhân viên bảo trì điện nước tại bệnh viện X dưới dạng hợp đồng 68 từ năm 2014. Nay e được thông báo nghỉ việc theo dạng tinh giảm biên chế do dôi dư vào 30/12/2018 theo chính sách thôi việc ngay vậy cho e. e có con nhỏ sinh ngày 17/3/2016, đến lúc nghỉ việc chưa đủ 36 tháng.

Chào luật sư. Hiện e là nhân viên bảo trì điện nước tại bệnh viện X dưới dạng hợp đồng 68 từ năm 2014. Nay e được thông báo nghỉ việc theo dạng tinh giảm biên chế do dôi dư vào 30/12/2018 theo chính sách thôi việc ngay vậy cho e hỏi:

1: e có con nhỏ sinh ngày 17/3/2016, đến lúc nghỉ việc chưa đủ 36 tháng vậy cho hỏi e có phải thuộc trường hợp xét giảm biên chế k (e là bố)

2: cơ quan e chỉ có 2 nhân viên bảo trì điện nước, nay e nghĩ thì chỉ có 1 người làm như vậy có thể xét là do dôi dư k ah. (cơ quan e chỉ tiêu là 70 giường bệnh).

3: Nay giám đốc bảo e phải viết đơn xin nghỉ việc thì mới được hưởng trợ cấp, cho e hỏi như vậy đúng hay sai, nếu e không viết thì có phải là chống đối k ah.

Em xin cảm ơn và mong được nhận phản hồi sớm

Trả lời tư vấn: Cảm ơn anh đã tin tưởng và gửi yêu cầu tới Công ty Luật Minh gia chúng tôi, vấn đề anh đưa ra chúng tôi tư vấn như sau:

Thứ nhất, về việc tinh giản biên chế người lao động

Căn cứ Điều 7 Nghị định số 108/2014/NĐ-CP về chính sách tinh giản biên chế quy định:

“Điều 7. Các trường hợp chưa xem xét tinh giản biên chế

1. Những người đang trong thời gian ốm đau có xác nhận của cơ quan y tế có thẩm quyền.

2. Cán bộ, công chức, viên chức và người lao động đang trong thời gian mang thai, nghỉ thai sản, đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi.

3. Những người đang trong thời gian xem xét kỷ luật hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự.”

Theo thông tin anh đưa ra, anh có con nhỏ sinh ngày 17/3/2016 đến lúc anh nghỉ việc ngày 30/12/2018 thì con anh chưa đủ 36 tháng tuổi. Do đó trường hợp của anh thuộc khoản 2 Điều này nên anh chưa  phải xem xét tinh giản biên chế.

Thứ hai, các trường hợp tinh giản biên chế

Căn cứ Điều 6 Nghị định số 108/2014/NĐ-CP quy định:

“Điều 6. Các trường hợp tinh giản biên chế

1. Cán bộ, công chức, viên chức trong biên chế và cán bộ, công chức cấp xã hưởng lương từ ngân sách nhà nước hoặc quỹ tiền lương của đơn vị sự nghiệp theo quy định của pháp luật (sau đây gọi chung là cán bộ, công chức, viên chức), thuộc đối tượng tinh giản biên chế nếu thuộc một trong các trường hợp sau:

a) Dôi dư do rà soát, sắp xếp lại tổ chức bộ máy, nhân sự theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền của Đảng, Nhà nước hoặc do đơn vị sự nghiệp công lập sắp xếp lại tổ chức bộ máy, nhân sự để thực hiện chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tài chính, tổ chức bộ máy và nhân sự;

b) Dôi dư do cơ cấu lại cán bộ, công chức, viên chức theo vị trí việc làm, nhưng không thể bố trí, sắp xếp được việc làm khác;

c) Chưa đạt trình độ đào tạo theo tiêu chuẩn chuyên môn, nghiệp vụ quy định đối với vị trí việc làm đang đảm nhiệm, nhưng không có vị trí việc làm khác phù hợp để bố trí và không thể bố trí đào tạo lại để chuẩn hóa về chuyên môn;

d) Có chuyên ngành đào tạo không phù hợp với vị trí việc làm hiện đang đảm nhiệm nên bị hạn chế về năng lực hoàn thành công việc được giao, nhưng không thể bố trí việc làm khác.

đ) Có 02 năm liên tiếp liền kề tại thời điểm xét tinh giản biên chế, cán bộ, công chức được phân loại, đánh giá xếp vào mức hoàn thành nhiệm vụ nhưng còn hạn chế về năng lực hoặc có 01 năm hoàn thành nhiệm vụ nhưng còn hạn chế về năng lực và 01 năm không hoàn thành nhiệm vụ nhưng không thể bố trí việc làm khác phù hợp.

e) Có 02 năm liên tiếp liền kề tại thời điểm xét tinh giản biên chế, viên chức có 01 năm được phân loại đánh giá xếp vào mức hoàn thành nhiệm vụ và 01 năm không hoàn thành nhiệm vụ nhưng không thể bố trí việc làm khác phù hợp.

g) Có 02 năm liên tiếp liền kề tại thời điểm xét tinh giản biên chế, mỗi năm có tổng số ngày nghỉ làm việc là số ngày nghỉ tối đa do ốm đau theo quy định tại Khoản 1 Điều 23 Luật Bảo hiểm xã hội, có xác nhận của cơ sở khám chữa bệnh và cơ quan Bảo hiểm xã hội chi trả trợ cấp ốm đau theo quy định hiện hành.

2. Người làm việc theo chế độ hợp đồng lao động không xác định thời hạn trong các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp công lập chưa được giao quyền tự chủ hoàn toàn về thực hiện nhiệm vụ, tài chính, tổ chức bộ máy, nhân sự (sau đây gọi là đơn vị sự nghiệp công lập chưa được giao quyền tự chủ) dôi dư do sắp xếp lại tổ chức theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền hoặc do đơn vị sự nghiệp công lập sắp xếp lại tổ chức bộ máy, nhân sự để thực hiện chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tài chính, tổ chức bộ máy và nhân sự.

3. Viên chức, người làm việc theo chế độ hợp đồng lao động không xác định thời hạn tại các đơn vị sự nghiệp công lập được giao quyền tự chủ hoàn toàn về thực hiện nhiệm vụ, tài chính, tổ chức bộ máy, nhân sự dôi dư do sắp xếp lại tổ chức theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền hoặc do đơn vị sự nghiệp công lập sắp xếp lại tổ chức bộ máy, nhân sự để thực hiện chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tài chính, tổ chức bộ máy và nhân sự.

…”

Trong trường hợp của anh, cơ quan anh chỉ có 2 nhân viên bảo trì điện nước. Việc cơ quan xét anh thuộc trường hợp tinh giản biên chế do dôi dư vì không thể bố trí, sắp xếp được việc làm khác cho anh theo điểm b khoản 1 Điều 6 nêu trên là đúng pháp luật.

Thứ ba, về đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động

Căn cứ khoản 1 Điều 10 Nghị định số 108/2014/NĐ-CP về tinh giản biên chế quy định:

Điều 10. Chính sách thôi việc

1. Chính sách thôi việc ngay

Những người thuộc đối tượng tinh giản biên chế quy định tại Điều 6 Nghị định này có tuổi đời dưới 53 tuổi đối với nam, dưới 48 tuổi đối với nữ và không đủ điều kiện để hưởng chính sách về hưu trước tuổi theo quy định tại Khoản 1 Điều 8 Nghị định này hoặc có tuổi đời dưới 58 tuổi đối với nam, dưới 53 tuổi đối với nữ và không đủ điều kiện để hưởng chính sách về hưu trước tuổi theo quy định tại Khoản 2 Điều 8 Nghị định này, nếu thôi việc ngay thì được hưởng các khoản trợ cấp sau:

a) Được trợ cấp 03 tháng tiền lương hiện hưởng để tìm việc làm;

b) Được trợ cấp 1,5 tháng tiền lương cho mỗi năm công tác có đóng bảo hiểm xã hội.

…”

Trong trường hợp anh được xét tinh giản biên chế mà thôi việc ngay thì anh sẽ được hưởng các khoản trợ cấp nêu trên.

Đối với việc giám đốc yêu cầu anh viết đơn xin nghỉ việc thì mới được hưởng trợ cấp. 

Ở đây, theo thông tin bạn cung cấp, người quản lý đã yêu cầu bạn tự viết đơn xin nghỉ việc. Đây là vấn đề thoả thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động không trái với quy định của pháp luật. Tuy nhiên, do là thoả thuận nên anh có thể đồng ý hoặc không đồng ý viết đơn xin thôi việc. Nếu anh không tự nguyện viết đơn, giám đốc đó cũng không có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động nếu người lao động không thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 38 Bộ luật lao động năm 2012:

“Điều 38. Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người sử dụng lao động

1. Người sử dụng lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trong những trường hợp sau đây:

a) Người lao động thường xuyên không hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động;

b) Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 12 tháng liên tục đối với người làm theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, đã điều trị 06 tháng liên tục, đối với người lao động làm theo hợp đồng lao động xác định thời hạn và quá nửa thời hạn hợp đồng lao động đối với người làm theo hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa hồi phục.

Khi sức khỏe của người lao động bình phục, thì người lao động được xem xét để tiếp tục giao kết hợp đồng lao động;

c) Do thiên tai, hỏa hoạn hoặc những lý do bất khả kháng khác theo quy định của pháp luật, mà người sử dụng lao động đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng vẫn buộc phải thu hẹp sản xuất, giảm chỗ làm việc;

d) Người lao động không có mặt tại nơi làm việc sau thời hạn quy định tại Điều 33 của Bộ luật này.

…”

Trên đây là nội dung tư vấn của Luật Sư Toàn Quốc về vấn anh bạn hỏi và quan tâm. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ cần luật sư giải đáp, anh vui lòng gọi đến Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến của chúng tôi – Số điện thoại liên hệ: 0926 220 286 để được hỗ trợ kịp thời.

Trân trọng.
CV tư vấn: Nguyễn Thị Hằng Nga- Luật Sư Toàn Quốc

0/5 (0 Reviews)

Leave a Comment

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *