Sai phạm khi đòi tiền BHXH khi người lao động nghỉ việc

Luật sư tư vấn về sai phạm của người sử dụng lao động về ký kết hợp đồng lao động và yêu cầu hoàn trả tiền đóng bảo hiểm xã hội khi người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động. Cụ thể như sau:

Nội dung cần tư vấn:

Chào luật sư. Hiện tại tôi đã nghỉ việc tại công ty cũ. Trong thời gian làm việc tại công ty cũ, tôi chưa hề ký hợp đồng lao động. Tuy nhiên sau thời gian thử việc công ty vẫn đóng bảo hiểm cho tôi. Thời gian tôi thông báo nghỉ việc đến lúc chính thức nghỉ khoảng nửa tháng. Tuy nhiên công ty đã không trả lương và không trả sổ bảo hiểm cho tôi. Công ty yêu cầu tôi trả lại 22% lương công ty đóng bảo hiểm trong 4 tháng mới giao lại sổ bảo hiểm cho tôi. Vậy công ty cũ của tôi có quyền giữ sổ bảo hiểm của tôi và yêu cầu bồi thường như vậy được không ? Rất mong nhận được sự tư vấn của luật sư.

Trả lời: Cảm ơn bạn đã gửi nội dung đề nghị tư vấn đến Luật Sư Toàn Quốc. Trường hợp của bạn, chúng tôi xin tư vấn như sau:

Công ty của bạn đã vi phạm quy định về hợp đồng với người lao động khi không ký kết hợp đồng với người lao động. Tuy nhiên, bạn cũng đã không đúng khi vi phạm về thời gian báo trước khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động. Cụ thể, Điều 37 Bộ luật lao động năm 2012 quy định về quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động như sau:

1. Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn, hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trước thời hạn trong những trường hợp sau đây:

a) Không được bố trí theo đúng công việc, địa điểm làm việc hoặc không được bảo đảm điều kiện làm việc đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động;

b) Không được trả lương đầy đủ hoặc trả lương không đúng thời hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động;

c) Bị ngược đãi, quấy rối tình dục, cưỡng bức lao động;

d) Bản thân hoặc gia đình có hoàn cảnh khó khăn không thể tiếp tục thực hiện hợp đồng lao động;

đ) Được bầu làm nhiệm vụ chuyên trách ở cơ quan dân cử hoặc được bổ nhiệm giữ chức vụ trong bộ máy nhà nước;

e) Lao động nữ mang thai phải nghỉ việc theo chỉ định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền;

g) Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 90 ngày liên tục đối với người làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn và một phần tư thời hạn hợp đồng đối với người làm việc theo hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa được hồi phục.

2. Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại khoản 1 Điều này, người lao động phải báo cho người sử dụng lao động biết trước:

a) Ít nhất 3 ngày làm việc đối với các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và g khoản 1 Điều này;

b) Ít nhất 30 ngày nếu là hợp đồng lao động xác định thời hạn; ít nhất 03 ngày làm việc nếu là hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng đối với các trường hợp quy định tại điểm d và điểm đ khoản 1 Điều này;

c) Đối với trường hợp quy định tại điểm e khoản 1 Điều này thời hạn báo trước cho người sử dụng lao động được thực hiện theo thời hạn quy định tại Điều 156 của Bộ luật này.

3. Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, nhưng phải báo cho người sử dụng lao động biết trước ít nhất 45 ngày, trừ trường hợp quy định tại Điều 156 của Bộ luật này.

Theo như thông tin bạn cung cấp, chúng tôi suy luận rằng bạn làm việc theo hợp đồng xác định thời hạn hoặc không xác định thời hạn. Do đó thời hạn báo trước của bạn mới được nửa tháng là chưa đúng với quy định của luật lao động. Nhưng sau đó công ty buộc phải có trách nhiệm trả sổ bảo hiểm xã hội cho bạn và không được yêu cầu hoàn tiền đóng bảo hiểm xã hội. Bạn chỉ phải trả chi phí đào tạo của Công ty (nếu có) và bồi thường theo Điều 43 Bộ luật lao động. Cụ thể:

Điều 43. Nghĩa vụ của người lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật

1. Không được trợ cấp thôi việc và phải bồi thường cho người sử dụng lao động nửa tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.

2. Nếu vi phạm quy định về thời hạn báo trước thì phải bồi thường cho người sử dụng lao động một khoản tiền tương ứng với tiền lương của người lao động trong những ngày không báo trước.

3. Phải hoàn trả chi phí đào tạo cho người sử dụng lao động theo quy định tại Điều 62 của Bộ luật này.

————–

Câu hỏi thứ 2 – Có được truy thu tiền lương chênh lệch khi Nhà nước tăng lương cơ bản không?

Xin chào luật sư! Xin cho tôi hỏi. Tôi là giáo viên tiểu học. 20 tháng 01 năm 2016 tôi nghỉ thai sản đến ngày 20/8/2016 tôi đi làm lại. Trong thời gian tôi nghỉ nhà nước tăng lương cơ sở từ 1/5/2016 và tăng lương thường xuyên từ tháng 6/2016 từ 2,06 lên 2,26 được hưởng lương tăng thêm 8%. khi tôi đi làm lại thì có công văn truy hồi lại từ tháng 5/2016 đến tháng 8/2016 tôi đã đóng xong nhưng khi truy lãnh thì chỉ được truy lãnh tháng 8/2016. Hỏi tôi có được truy lãnh tháng 5, 6, 7/2016 và lương tăng không? Tôi xin cảm ơn.

Trả lời: Đối với yêu cầu hỗ trợ của chị chúng tôi tư vấn như sau:

Thời gian chị nghỉ việc hưởng chế độ thai sản, là khoảng thời gian chị không làm việc và được hưởng nguyên lương theo quy định do Cơ quan BHXH chịu trách nhiệm chi trả. Trong thời gian này đơn vị chị không có trách nhiệm trả lương cho chị. Do đó, việc trong thời gian chị nghỉ thai sản Nhà nước thực hiện quy định về tăng lương thì chị không thuộc đối tượng được chi trả các khoản tiền lương này. Vì vậy, không có cơ sở để chị được truy thu mức chênh lệch tiền lương trong khoảng thời gian này.

0/5 (0 Reviews)

Leave a Comment

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.