Thông báo chấm dứt hợp đồng lao động như thế nào là hợp pháp?

Trường hợp nào có thể đơn phương chấm dứt hợp đồng lào động theo quy định của pháp luật? Có được đơn phương chấm dứt hợp đồng đối với hợp đồng có xác định thời hạn hay không? Cần trình tự, thủ tục gì để được đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động? …. Luật Sư Toàn Quốc giải đáp các vấn đề trên như sau:

1. Luật sư tư vấn về đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động

Đơn phương chấm dứt hợp đồng là quyền của người lao động khi có đủ điều kiện nhất định theo quy định của pháp luật. Để có thể chấm dứt hợp đồng, người lao động sẽ phải có các lý do được quy định tại Bộ luật Lao động và đáp ứng thời gian báo trước theo từng trường hợp. Để có thể đơn phương chấm dứt hợp đồng đúng với quy định pháp luật và không phải chịu chế tài theo quy định của Bộ Luật Lao động, bạn cần nắm rõ các điều kiện và thời gian báo trước để chấm dứt hợp đồng.

Nếu bạn đang có vấn đề thắc mắc, chưa rõ về đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, hãy gửi câu hỏi của mình về địa chỉ Email của công ty Luật Sư Toàn Quốc hoặc liên hệ Hotline: 0926 220 286  để được các Luật sư, chuyên viên hướng dẫn tư vấn.

Ngoài ra, để có thêm thông tin thực tế và sinh động hơn, bạn có thể tham khảo tình huống tư vấn của Luật Sư Toàn Quốc dưới đây để có thêm thông tin về quy định của pháp luật và đối chiếu với trường hợp của mình.

2. Hỏi về quy định pháp luật xoay quanh đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động

Nôi dung tư vấn như sau: Tôi làm ở một công ty được 1 năm. Đến năm 2016 tôi kí tiếp hợp đồng 36 tháng. Đến tháng 3 năm 2018 tôi xin nghỉ vì hoàn cảnh gia đình và sức khỏe.Đầu tháng 12/3/2018 tôi có gặp Tổng giám đốc và xin nghỉ việc từ 03/4/2018. Ngày 12/3/2018 tôi cũng phải xin nghỉ việc để phẫu thuật và nghỉ tại nhà đến 22/3/2018 tôi đi làm và nộp đơn xin nghỉ cho Tổng giám đốc và phòng tổ chức (mỗi người 1 bản do được yêu cầu).Do phòng tổ chức thay đổi biểu mẫu đơn xin nghỉ việc nên tôi nộp lại đơn theo biểu mẫu mới ngày 27/3/2018 và phòng tổ chức xác nhận cho tôi  nghỉ theo luật sau 20 ngày nhưng TGD vẫn không kí đơn xin nghỉ việc của tôi và nói tôi làm xong thủ tục bàn giao rồi kí.Tôi tiếp tục đi làm và bàn giao xong đến ngày 12/4/2018.

Trong quá trình bàn giao tôi gặp vấn đề về 1 chứng từ với kế toán, tôi đã làm thủ tục đề nghị thanh toán và thu tạm ứng của tôi (đi công tác) từ cuối tháng 2/2018 nhưng chưa được TGD kí (do phòng tổ chức chưa làm quyết định đi công tác cho tôi đến khi tôi nghỉ việc). Vì vậy phòng kế toán không xác nhận trong biên bản bàn giao và đơn xác nhận bàn giao (các đơn vị và người nhận bàn giao đã xác nhận bàn giao đầy đủ từ ngày 12/04/2018). Ngày 8/4/2018 tôi có đi thử việc tại một công ty mới. Đến nay tôi hết thời gian thử việc và được kí HDLD.Đến nay tôi vẫn chưa nhận quyết định chấm dứt HDLD của công ty đển rút sổ bảo hiểm để kí hợp đồng và đóng bảo hiểm xh tại công ty mới.Luật Gia Minh giải đáp giúp tôi:

1. Theo luật , tôi phải báo trước cho NSDLD 30 hay 45 ngày và báo theo hình thức nào là đúng luật (báo miệng hay giấy tờ)

2. Trường hợp tôi nghỉ việc như trên có vi phạm luật và phải bồi thường gì không?

3. Tôi cần phải làm gì để rút sổ bảo hiểm xã hội của tôi và tiếp tục đóng tại đơn vị mới? Mong sớm nhận được tư vấn.

Trả lời: Cảm ơn bạn đã tin tưởng gửi yêu cầu tư vấn đến công ty Luật Sư Toàn Quốc, với vụ việc của bạn chúng tôi có quan điểm tư vấn như sau:

Trước hết, việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động là quyền của người lao động căn cứ cứ theo quy định tại điều 37 Bộ luật lao động năm 2012. Cụ thể:

Điều 37. Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động

1. Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn, hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trước thời hạn trong những trường hợp sau đây:

a) Không được bố trí theo đúng công việc, địa điểm làm việc hoặc không được bảo đảm điều kiện làm việc đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động;

b) Không được trả lương đầy đủ hoặc trả lương không đúng thời hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động;

c) Bị ngược đãi, quấy rối tình dục, cưỡng bức lao động;

d) Bản thân hoặc gia đình có hoàn cảnh khó khăn không thể tiếp tục thực hiện hợp đồng lao động;

…..

2. Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại khoản 1 Điều này, người lao động phải báo cho người sử dụng lao động biết trước:

a) Ít nhất 3 ngày làm việc đối với các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và g khoản 1 Điều này;

b) Ít nhất 30 ngày nếu là hợp đồng lao động xác định thời hạn; ít nhất 03 ngày làm việc nếu là hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng đối với các trường hợp quy định tại điểm d và điểm đ khoản 1 Điều này;

Theo đó để đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động cần đáp ứng điều kiện trên đây, ngoài trường hợp chấm dứt cần đảm bảo thời gian báo trước. Việc thông báo cho người sử dụng lao động có thể thông báo trực tiếp thông qua lời nói hoặc văn bản nhưng cần đảm bảo có căn cứ chứng minh được. Đối chiếu với vụ việc của bạn, hợp đồng lao động ký kết xác định thời hạn 36 tháng do đó khi chấm dứt hợp đồng cần đảm bảo có lý do theo quy định trên và báo trước cho doanh nghiệp trước ít nhất là 30 ngày. Nếu vi phạm một trong các điều kiện trên thì việc chấm dứt hợp đồng đó là trái với quy định của pháp luật.

Khi chấm dứt hợp đồng trái pháp luật người lao động phải thực hiện nghĩa vụ bồi thường theo quy định tại điều 43 Bộ luật lao động năm 2012. Cụ thể:

Điều 43. Nghĩa vụ của người lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật

1. Không được trợ cấp thôi việc và phải bồi thường cho người sử dụng lao động nửa tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.

2. Nếu vi phạm quy định về thời hạn báo trước thì phải bồi thường cho người sử dụng lao động một khoản tiền tương ứng với tiền lương của người lao động trong những ngày không báo trước.

3. Phải hoàn trả chi phí đào tạo cho người sử dụng lao động theo quy định tại Điều 62 của Bộ luật này

Ngoài ra công ty cũng có trách nhiệm thanh toán các khoản liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của công ty, đồng thời chốt sổ bảo hiểm xã hội và trả sổ cho người lao động theo điều 47 BLLĐ năm 2012

Điều 47. Trách nhiệm của người sử dụng lao động khi chấm dứt hợp đồng lao động

2. Trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động, hai bên có trách nhiệm thanh toán đầy đủ các khoản có liên quan đến quyền lợi của mỗi bên; trường hợp đặc biệt, có thể kéo dài nhưng không được quá 30 ngày.

3. Người sử dụng lao động có trách nhiệm hoàn thành thủ tục xác nhận và trả lại sổ bảo hiểm xã hội và những giấy tờ khác mà người sử dụng lao động đã giữ lại của người lao động.

Trường hợp công ty không thực hiện nghĩa vụ này bạn có quyền thực hiện khiếu nại công ty đến Chánh thanh tra Sở lao động thương binh xã hội nơi công ty có trụ sở để đảm bảo quyền lợi của mình.

—————–

Câu hỏi thứ 2 – Nguyên tắc giao kết hợp đồng lao động

Xin chào luật sư. Cháu có vấn đề này muốn nhờ luật sư tư vấn.Sự việc là như thế này. Cháu với B là 2 người quen. B muốn cháu về làm cho B. Muốn cháu ký hợp đồng làm cho B và nhận 1 số tiền lương trước có ghi trong hợp đồng. B hứa mồm với cháu là trong quá trình chuẩn bị vào làm việc. B sẽ là người dạy cho cháu cách làm việc, cách quản lý công việc ấy. Nhưng như thế chỉ là nói mồm. Ví dụ ký xong mà B không dạy cháu. cháu sẽ không đảm nhận được công việc. Như thế tương đương là cháu phải bồi thường hợp đồng đúng không ạ? Cháu viết thư này muốn hỏi chú xem trường hợp của cháu. Cháu có thể làm vs B 1 bản cam kết hay thoả thuận nào đó mà có nội dung là : B phải đảm bảo dạy cháu đủ để đảm bảo được công việc. Nếu b không dạy cháu thì sẽ phải chịu bồi thường… có thể làm dc như thế không chú? Mong chú giúp cháu.Cháu xin cảm ơn ạ!

Trả lời:

Đối với yêu cầu hỗ trợ của bạn thì với nguyện vọng của bạn là các bên ký bản thỏa thuận hoặc B ký cam kết thì hoàn toàn phụ thuộc vào sự thỏa thuận, ý chí tự nguyện của các bên chứ pháp luật không có quy định nào ràng buộc bên người sử dụng lao động phải cam kết vấn đề dạy việc cho người lao động. Lưu ý, việc thỏa thuận giữa các bên phải đảm bảo nguyên tắc theo quy định tại Điều 17 Bộ luật lao động 2012:

Điều 17. Nguyên tắc giao kết hợp đồng lao động

1. Tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác và trung thực.

2. Tự do giao kết hợp đồng lao động nhưng không được trái pháp luật, thỏa ước lao động tập thể và đạo đức xã hội.”

0/5 (0 Reviews)

Leave a Comment

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *