Trách nhiệm người sử dụng lao động khi trả sổ bảo hiểm chậm và điều kiện hưởng trợ cấp thất nghiệp

Trách nhiệm người sử dụng lao động khi trả sổ bảo hiểm chậm và điều kiện hưởng trợ cấp thất nghiệp

Em có thời gian nghỉ thai sản từ tháng 3/2017 đến cuối tháng 8/2017. Sau đó, em có xin nghỉ việc và nộp hồ sơ xin nghỉ nhưng đến 25/11/2017 bên bảo hiểm xã hội mới trả sổ bảo hiểm để em đi làm trợ cấp thất nghiệp. Nhưng khi đi làm bên trung tâm giới thiệu việc làm báo là đã quá hạn 3 tháng nên không giải quyết được…

Em có thời gian nghỉ thai sản từ tháng 3/2017 đến cuối tháng 8/2017 sau đó e có xin nghỉ việc và nộp hồ sơ xin nghỉ nhưng đến 25/11/2017 bên bảo hiểm xã hội mới trả sổ bh để e đi làm trợ cấp thất nghiệp nhưng khi đi làm bên trung tâm giới thiệu việc làm báo là đã quá hạn 3 tháng nên không giải quyết được vậy trong trường hợp của e bên bh có trách nhiệm giải quyết cho e không vì do bên bh trả hồ sơ trễ dẫn đến e k làm được trợ cấp thất nghiệp và cho e hỏi thêm là nếu không nhận được trợ cấp thất nghiệp e xin đi làm lại sau đó 1 tháng sau e lại nghỉ việc thì e có được hưởng trợ cấp thất nghiệp không chân thành cảm ơn

Trả lời tư vấn: Cảm ơn chị đã tin tưởng và gửi yêu cầu tới Công ty Luật Minh gia chúng tôi, vấn đề chị đưa ra chúng tôi tư vấn như sau:

Thứ nhất, về trường hợp không nhận được trợ cấp thất nghiệp

Căn cứ Khoản 1 Điều 46 Luật Việc làm năm 2013 quy định:

“1. Trong thời hạn 03 tháng, kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc, người lao động nộp hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp tại trung tâm dịch vụ việc làm do cơ quan quản lý nhà nước về việc làm thành lập.”

Theo quy định của pháp luật, trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động thì người lao động phải làm hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp tại trung tâm dịch vụ việc làm. Do đó, nếu quá thời hạn 03 tháng thì khi nộp hồ sơ hưởng bảo hiểm thất nghiệp, trung tâm dịch vụ việc làm sẽ không giải quyết. Việc chậm trễ này là do lỗi của công ty. Tuy nhiên, nếu quá thời hạn 03 tháng kể từ ngày chị nghỉ việc thì sẽ không đủ điều kiện hưởng trợ cấp thất nghiệp mà không loại trừ việc nộp hồ sơ chậm do lỗi của công ty.

Theo Khoản 2 và Khoản 3 Điều 47 Bộ luật Lao động năm 2012 quy định trách nhiệm của người sử dụng lao động khi chấm dứt hợp đồng lao động :

“2. Trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động, hai bên có trách nhiệm thanh toán đầy đủ các khoản có liên quan đến quyền lợi của mỗi bên; trường hợp đặc biệt, có thể kéo dài nhưng không được quá 30 ngày.

3. Người sử dụng lao động có trách nhiệm hoàn thành thủ tục xác nhận và trả lại sổ bảo hiểm xã hội và những giấy tờ khác mà người sử dụng lao động đã giữ lại của người lao động.”

Nếu công ty thực hiện sai quy định nêu trên thì Công ty đã vi phạm luật lao động và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật. Theo Khoản 7 Điều 1 Nghị định số 88/2015/NĐ-CP quy định về sửa đổi, bổ sung một số điều của nghị định số 95/2013/NĐ-CP

1. Phạt tiền người sử dụng lao động có một trong các hành vi: Sửa đổi quá một lần thời hạn hợp đồng lao động bằng phụ lục hợp đồng lao động hoặc khi sửa đổi thời hạn hợp đồng lao động bằng phụ lục hợp đồng lao động làm thay đi loại hợp đồng lao động đã giao kết; không thực hiện đúng quy định về thời hạn thanh toán các khoản về quyền lợi của người lao động khi chấm dứt hợp đồng lao động; không trả hoặc trả không đủ tiền trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm chngười lao động theo quy định của pháp luật; không trả hoặc trả không đủ tiền bồi thường cho người lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật; không hoàn thành thủ tục xác nhận và trả lại những giấy tờ khác đã giữ của người lao động sau khi chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định của pháp luật theo một trong các mức sau đây:

a) Từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng với vi phạm từ 01 người đến 10 người lao động;

3. Biện pháp khắc phục hậu quả:

a) Buộc trả đủ tiền trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm, tiền bồi thường khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật cho người lao động cộng với khoản tiền lãi của số tiền chưa trả tính theo mức lãi suất tiền gửi không kỳ hạn cao nhất của các ngân hàng thương mại nhà nước công bố tại thời điểm xử phạt đối với hành vi không trả hoặc trả không đủ tiền trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm, tiền bồi thường cho người lao động quy định tại Khoản 1 Điều này;

b) Buộc hoàn thành thủ tục xác nhận và trả lại những giấy tờ khác đã giữ cho người lao động đối với hành vi không hoàn thành thủ tục xác nhận và trả lại những giấy tờ khác đã giữ của người lao động sau khi chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại Khoản 1 Điều này

Thứ hai, về điều kiện hưởng trợ cấp thất nghiệp

Theo Điều 49 Luật Việc làm năm 2013 quy định điều kiện hưởng trợ cấp thất nghiệp
 

“Điều 49. Điều kiện hưởng 
 

Người lao động quy định tại khoản 1 Điều 43 của Luật này đang đóng bảo hiểm thất nghiệp được hưởng trợ cấp thất nghiệp khi có đủ các điều kiện sau đây:

1. Chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc, trừ các trường hợp sau đây:

a) Người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc trái pháp luật;

b) Hưởng lương hưu, trợ cấp mất sức lao động hằng tháng;

2. Đã đóng bảo hiểm thất nghiệp từ đủ 12 tháng trở lên trong thời gian 24 tháng trước khi chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc đối với trường hợp quy định tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều 43 của Luật này; đã đóng bảo hiểm thất nghiệp từ đủ 12 tháng trở lên trong thời gian 36 tháng trước khi chấm dứt hợp đồng lao động đối với trường hợp quy định tại điểm c khoản 1 Điều 43 của Luật này;

3. Đã nộp hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp tại trung tâm dịch vụ việc làm theo quy định tại khoản 1 Điều 46 của Luật này;

4. Chưa tìm được việc làm sau 15 ngày, kể từ ngày nộp hồ sơ hưởng bảo hiểm thất nghiệp, trừ các trường hợp sau đây:

a) Thực hiện nghĩa vụ quân sự, nghĩa vụ công an;

b) Đi học tập có thời hạn từ đủ 12 tháng trở lên;

c) Chấp hành quyết định áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc;

d) Bị tạm giam; chấp hành hình phạt tù;

đ) Ra nước ngoài định cư; đi lao động ở nước ngoài theo hợp đồng;

e) Chết.”

 

Trên đây là nội dung tư vấn của Luật Sư Toàn Quốc về vấn đề chị hỏi và quan tâm. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ cần luật sư giải đáp, chị vui lòng gọi đến Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến của chúng tôi – Số điện thoại liên hệ: 0926 220 286 để được hỗ trợ kịp thời.

Trân trọng.
CV tư vấn: Nguyễn Thị Hằng Nga – Luật Sư Toàn Quốc

0/5 (0 Reviews)

Leave a Comment

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *