Trích nộp thuế thu nhập cá nhân cho trường hợp NLĐ là cộng tác viên

Luật sư tư vấn về trích nộp thuế thu nhập cá nhân cho trường hợp NLĐ là cộng tác viên. Nội dung tư vấn:

Kính thưa Luật Sư Toàn Quốc,Hiện nay công ty tôi đang ký hợp đồng cộng tác viên với công việc bán thời gian 4 giờ / 1 ngày. Luật sư cho tôi hỏi:- Đối với hợp đồng cộng tác viên có phải trích nộp thuế thu nhập cá nhân không? nếu trích nộp thì tính như thế nào? với mức thu nhập lương cơ bản đang là 2 triệu/ tháng.- Với công việc hiện tại công ty tôi, hợp đồng cộng tác viên đang có tính chất làm việc liên tục trong 12 tháng, nếu ký loại hợp đồng công tác viên như này thì đã đúng luật hay chưa?Hay phải ký thành hợp đồng lao động và được hưởng các quyền và nghĩa vụ như NLĐ làm việc đủ 8h/ ngày -> thì mức 2 triệu/ tháng lại không đủ điều kiện tham gia BHXH -> dẫn đến hợp đồng sai luật -> nhờ luật sư với trường hợp như công ty tôi thì soạn hợp đồng như thế nào mới là đúng luật ạ.Rất mong sớm nhận được câu hỏi tư vấn của luật sư.Trân trọng cảm ơn.

Trả lời tư vấn: Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đề nghị tư vấn đến Công ty Luật Sư Toàn Quốc, trường hợp của bạn chúng tôi tư vấn như sau:

Thứ nhất: Đối với hợp đồng cộng tác viên có phải trích nộp thuế thu nhập cá nhân không? Nếu trích nộp thì tính như thế nào với mức thu nhập lương cơ bản đang là 2 triệu/ tháng

Vì hợp đồng cộng tác viên không phải là hợp đồng lao động, nên khi trả thu nhập cho người lao động, tổ chức trả thu nhập phải có trách nhiệm khấu trừ thuế TNCN với mức 10% trước khi trả thu nhập từ 2.000.000 đồng trở lên. Trường hợp này các cộng tác viên không được tính giảm trừ gia cảnh. Cụ thể, điểm i khoản 1 Điều 25 Thông tư số 111/2013/TT-BTC ngày 15 tháng 08 năm 2013 quy định: “Các tổ chức, cá nhân trả tiềncông, tiền thù lao, tiền chi khác cho cá nhân cư trú không ký hợp đồng lao động(theo hướng dẫn tại điểm c, d, khoản 2, Điều 2 Thông tư này) hoặc ký hợp đồng lao động dưới ba (03) tháng có tổng mức trả thu nhập từ hai triệu (2.000.000) đồng/lần trở lên thì phải khấu trừ thuế theo mức 10% trên thu nhập trước khi trả cho cá nhân”.

Thứ hai: Theo Điều 513 Bộ Luật Dân Sự năm 2015 quy định: Hợp đồng cộng tác viên được xem là hợp đồng dịch vụ, trong đó, bên cung ứng dịch vụ thực hiện công việc là cộng tác viên và bên thuê dịch vụ là bên nhận cộng tác viên làm việc, đồng thời phải trả tiền dịch vụ cho bên cung ứng dịch vụ này.

Tuỳ theo từng loại hợp đồng, các bên có thể thoả thuận về những nội dung sau đây:

– Đối tượng của hợp đồng là công việc phải làm;

– Số lượng, chất lượng;

– Giá, phương thức thanh toán;

– Thời hạn, địa điểm, phương thức thực hiện hợp đồng;

– Quyền, nghĩa vụ của các bên;

– Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng;

– Phạt vi phạm hợp đồng;

– Các nội dung khác.

Trên đây là nội dung tư vấn của Luật Sư Toàn Quốc về vấn đề bạn hỏi và quan tâm. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ cần luật sư giải đáp, bạn vui lòng gọi đến Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến của chúng tôi – Số điện thoại liên hệ: 0926 220 286 để được hỗ trợ kịp thời.

0/5 (0 Reviews)

Leave a Comment

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *