Trường hợp người chủ sử dụng lao động chấm dứt HĐLĐ với người lao động mà không phải bồi thường

Trường hợp người chủ sử dụng lao động chấm dứt HĐLĐ với người lao động mà không phải bồi thường

Luật sư tư vấn về trường hợp người chủ sử dụng lao động chấm dứt HĐLĐ với người lao động mà không phải bồi thường. Nội dung tư vấn như sau

Nội dung câu hỏi:Chào Luật Sư!Em có một số vướng mắc về việc Công ty đơn phương chấm dứt HĐLĐ mong Luật Sư hỗ trợ tư vấn để em hiểu rõ hơn về Luật lao động. Cụ thể, em làm việc công ty X từ ngày 10/4/2017. Đến ngày 01/10/2017 thì công ty mới bắt đầu ký HĐLĐ và đóng tiền BHXH cho em. HĐLĐ của em là loại không xác định thời gian (chỉ ký có 1 bản và phía công ty giữ).Ngày 14/12/2017 công ty buộc em nghỉ việc với lý do là em không phù hợp với môi trường công ty. Và yêu cầu em nghỉ việc ngay trong ngày.Ngày 12/01/2018 công ty trả sổ BHXH, quyết định thôi việc cho em, và yêu cầu em phải ký bản thanh lý HĐLĐ, biên bản bàn giao sổ BHXH thì mới trả sổ BHXH.Như vậy công ty đã chấm dứt HĐLĐ có luật đúng không ạ? Em có được nhận bồi thường không ạ? Hiện tại phía công ty đã giữ HĐLĐ và bắt em ký vào bảng thanh lý HĐLĐ thì em có thể kiện cty để được nhận bồi thường được không ạ? Và cơ quan nào để kiện ạ, Rất mong Quý Luật Sư hỗ trợ tư vấn cụ thể để em có thể thực hiện đúng quyền lợi và trách nhiệm của người lao động đúng theo pháp luật.Em chân thành cảm ơn phía Luật Sự. 

Trả lời: Cám ơn bạn đã gửi câu hỏi đến công ty Luật Sư Toàn Quốc, với câu hỏi của bạn chúng tôi xin trả lời như sau

Công ty chỉ có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng trong các trường hợp quy định tại Điều 38 Bộ luật lao động 2012 “Điều 38. Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người sử dụng lao động

1. Người sử dụng lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trong những trường hợp sau đây:

a) Người lao động thường xuyên không hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động;

b) Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 12 tháng liên tục đối với người làm theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, đã điều trị 06 tháng liên tục, đối với người lao động làm theo hợp đồng lao động xác định thời hạn và quá nửa thời hạn hợp đồng lao động đối với người làm theo hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa hồi phục.

Khi sức khỏe của người lao động bình phục, thì người lao động được xem xét để tiếp tục giao kết hợp đồng lao động;

c) Do thiên tai, hỏa hoạn hoặc những lý do bất khả kháng khác theo quy định của pháp luật, mà người sử dụng lao động đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng vẫn buộc phải thu hẹp sản xuất, giảm chỗ làm việc;

d) Người lao động không có mặt tại nơi làm việc sau thời hạn quy định tại Điều 33 của Bộ luật này.”

Tuy nhiên việc bạn đồng ý ký vào biên bản thanh lý HĐLĐ thì được coi là trường hợp 2 bên đã đồng ý thỏa thuận chấm dứt hợp đồng lao động, đây là một trong các căn cứ để chấm dứt HĐLĐ theo điều 36 Bộ luật lao động 2012 “Điều 36. Các trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động

1. Hết hạn hợp đồng lao động, trừ trường hợp quy định tại khoản 6 Điều 192 của Bộ luật này.

2. Đã hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động.

3. Hai bên thoả thuận chấm dứt hợp đồng lao động.

……”

 Vì vậy công ty sẽ không có trách nhiệm bồi thường cho bạn nếu trong trường hợp này

Tuy nhiên, Nếu có căn cứ chứng minh việc bạn ký vào biên bản thanh lý HĐLĐ là do bị cưỡng ép thì Bạn có thể gửi đơn lên Tòa án nhân dân quận ( huyện ) nơi công ty đặt trụ sở để tuyên bố biên bản thanh lý hợp đồng này vô hiệu. Công ty phải tiếp tục thực hiện HĐLĐ với bạn, nếu  công ty đơn phương chấm dứt HĐLĐ với bạn không dựa trên những căn cứ trên thì đây là trưởng hợp công ty đơn phương chấm dứt trái pháp luật với bạnvà sẽ có nghĩa vụ theo Điều 42 Bộ luật lao động 2012 ” Điều 42. Nghĩa vụ của người sử dụng lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật

1. Phải nhận người lao động trở lại làm việc theo hợp đồng lao động đã giao kết và phải trả tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế trong những ngày người lao động không được làm việc cộng với ít nhất 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.

2. Trường hợp người lao động không muốn tiếp tục làm việc, thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này người sử dụng lao động phải trả trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 48 của Bộ luật này.

3. Trường hợp người sử dụng lao động không muốn nhận lại người lao động và người lao động đồng ý, thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này và trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 48 của Bộ luật này, hai bên thỏa thuận khoản tiền bồi thường thêm nhưng ít nhất phải bằng 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động để chấm dứt hợp đồng lao động.

4. Trường hợp không còn vị trí, công việc đã giao kết trong hợp đồng lao động mà người lao động vẫn muốn làm việc thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này, hai bên thương lượng để sửa đổi, bổ sung hợp đồng lao động.

5. Trường hợp vi phạm quy định về thời hạn báo trước thì phải bồi thường cho người lao động một khoản tiền tương ứng với tiền lương của người lao động trong những ngày không báo trước.

Trên đây là nội dung tư vấn của Luật Sư Toàn Quốc về vấn đề bạn hỏi và quan tâm. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ cần luật sư giải đáp, bạn vui lòng gọi đến Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến của chúng tôi – Số điện thoại liên hệ: 0926 220 286 để được hỗ trợ kịp thời.

Trân trọng.
Luật gia / CV tư vấn: Phương Hà- Luật Sư Toàn Quốc

0/5 (0 Reviews)

Leave a Comment

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *