Tư vấn về trường hợp cá nhân bị chấm dứt hưởng trợ cấp thất nghiệp

Tư vấn về trường hợp cá nhân bị chấm dứt hưởng trợ cấp thất nghiệp

Điều kiện để bảo lưu đối với thời gian chưa được hưởng trợ cấp thất nghiệp? Mức phạt đối với trường hợp người đang hưởng bảo hiểm thất nghiệp vi phạm nghĩa vụ thông báo về tìm việc làm.

Nội dung yêu cầu tư vấn: Em có thắc mắc muốn được luật sư giải đáp dùm ạ. Em có đi đăng kí hồ sơ nhận bảo hiểm thất nghiệp và theo lịch trình quyết định nhận bhtn là lần thứ 1 vào ngày 25/12 sau đó lần trình diện thứ 2 là vào ngày 22/1 nhưng em không được nhận tiền được tiền của lần và đã thông báo lại cho trung tâm. Trung tâm kêu gọi lên bảo hiểm và được trả lời  là bảo hiểm đã cắt không chuyển tiền do tháng 11 em đã đi làm và cty đã đóng bhxh vì e chỉ làm có 20 ngày và nghỉ chưa kí hợp đồng nên ko biết cty đã đóng bhxh và em cũng không được thông báo là hồ sơ không được hưởng bhtn nên mới lên trình diện lần 2 . Em lại lên trình bày với trung tâm như thế và trung tâm  hổ trợ bhtn bảo là phải lên cty em làm vào tháng 11 gộp lại bhxh và xin 1 bản hđlđ để bảo lưu lại .

Vậy luật sư cho em hỏi 2 tháng em đã đăng kí nhưng không nhận được tiền vậy có bị mất 2 tháng đó khi đã bảo lưu không ??? Nghe bảo là đóng phạt gì đấy nữa . Xin tư vấn giúp em ạ . Cám ơn luật sư.

Trả lời tư vấn: Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi cho Luật Sư Toàn Quốc. Trường hợp của bạn chúng tôi tư vấn như sau:

Thứ nhất, về việc bạn đã đăng ký nhưng không nhận được tiền thì giải quyết như thế nào?

Căn cứ theo quy định tại Khoản 3 Điều 53 Luật Việc làm năm 2013 thì:

“3. Người đang hưởng trợ cấp thất nghiệp bị chấm dứt hưởng trợ cấp thất nghiệp trong các trường hợp sau đây:

a) Hết thời hạn hưởng trợ cấp thất nghiệp;

b) Tìm được việc làm;

c) Thực hiện nghĩa vụ quân sự, nghĩa vụ công an;

d) Hưởng lương hưu hằng tháng;

đ) Sau 02 lần từ chối nhận việc làm do trung tâm dịch vụ việc làm nơi đang hưởng trợ cấp thất nghiệp giới thiệu mà không có lý do chính đáng;

e) Không thực hiện thông báo tìm kiếm việc làm hằng tháng theo quy định tại Điều 52 của Luật này trong 03 tháng liên tục;

g) Ra nước ngoài để định cư, đi lao động ở nước ngoài theo hợp đồng;

h) Đi học tập có thời hạn từ đủ 12 tháng trở lên;

i) Bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi vi phạm pháp luật bảo hiểm thất nghiệp;

k) Chết;

l) Chấp hành quyết định áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc;

m) Bị tòa án tuyên bố mất tích;

n) Bị tạm giam; chấp hành hình phạt tù”.

4. Người lao động bị chấm dứt hưởng trợ cấp thất nghiệp thuộc các trường hợp quy định tại các điểm b, c, h, l, m và n khoản 3 Điều này được bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp làm căn cứ để tính thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp cho lần tiếp theo khi đủ điều kiện quy định tại Điều 49 của Luật này.

Thời gian bảo lưu được tính bằng tổng thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp trừ đi thời gian đóng đã hưởng trợ cấp thất nghiệp, theo nguyên tắc mỗi tháng đã hưởng trợ cấp thất nghiệp tương ứng 12 tháng đã đóng bảo hiểm thất nghiệp”.

Như vậy, nếu bạn thuộc một trong các trường hợp bị chấm dứt hưởng trợ cấp thất nghiệp trên thì thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp trước đó của bạn được bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp làm căn cứ để tính thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp cho lần tiếp theo khi đủ điều kiện.

Thứ hai, về mức phạt đối với trường hợp bạn không thông báo đã tìm được việc làm.

Căn cứ theo quy định tại Khoản 2 Điều 27 Nghị định 88/2015/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị Định  95/2015/NĐ-CP về Vi phạm quy định về lập hồ sơ để hưởng chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp thì:

“2. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với người lao động có một trong các hành vi vi phạm pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp sau đây:

a) Thỏa thuận với cơ sở đào tạo nghề làm giả hồ sơ để trục lợi số tiền hỗ trợ học nghề mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự;
b) Không thông báo với Trung tâm dịch vụ việc làm theo quy định khi người lao động có việc làm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nộp hồ sơ đề nghị hưởng trợ cấp thất nghiệp;

c) Người lao động đang hưởng trợ cấp thất nghiệp không thông báo theo quy định với Trung tâm dịch vụ việc làm khi thuộc một trong các trường hợp sau đây: tìm được việc làm; thực hiện nghĩa vụ quân sự, nghĩa vụ công an; hưởng lương hưu hằng tháng; ra nước ngoài để định cư, đi lao động ở nước ngoài theo hợp đồng; đi học tập có thời hạn từ đủ 12 tháng trở lên; chấp hành quyết định áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc”.

Trường hợp bạn chưa được hưởng trợ cấp thất nghiệp nhưng đã nộp hồ sơ đăng ký để hưởng chế độ bảo hiểm thất nghiệp nhưng bạn lại không thông báo với Trung tâm dịch vụ việc làm về việc bạn đã có việc làm trong thời hạn 15 ngày. Vì thực tế, sau khi nộp xong hồ sơ đăng ký hưởng chế độ thất nghiệp vào tháng 11 bạn đã tìm được việc làm và làm việc tại đó trong khoảng thời gian 20 ngày, nên bạn đã vi phạm pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp. Do đó, bạn có thể bi phạt tiền từ 1 triệu đồng đến 2 triệu đồng vì hành vi không thông báo của mình.

Trên đây là nội dung tư vấn của Luật Sư Toàn Quốc về vấn đề bạn hỏi và quan tâm. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ cần luật sư giải đáp, bạn vui lòng gọi đến Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến của chúng tôi – Số điện thoại liên hệ: 0926 220 286 để được hỗ trợ kịp thời.

Trân trọng.
CV tư vấn: Trần Thị Thìn – Luật Sư Toàn Quốc

0/5 (0 Reviews)

Leave a Comment

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *