Tư vấn về trường hợp không thanh toán lương và trả sổ bảo hiểm giải quyết như thế nào?

Luật sư tư vấn về trường hợp người sử dụng lao động không thanh toán lương khi người lao động nghỉ việc? Người sử dụng lao động giữ sổ bảo hiểm xã hội không trả giải quyết như thế nào?

Nội dung tư vấn: Dear Mr/Ms!Em xin nhờ Luật Sư Toàn Quốc tư vấn giúp em trường hợp này ạEm có làm ở công ty từ tháng 07/2013 đến hết tháng 04/2018.Trước thời điểm em viết đơn xin nghỉ việc. Em có nghe được một số người thân tín của quản lý nói rằng sẽ cho e nghỉ việc. Sau đó em viết đơn xin nghỉ từ ngày 23/05/2018 với lý do là gia đình có việc bận. (  Em và quản lý đã ngồi nói chuyện về lý do em xin nghỉ. Em cũng trao đổi trực tiếp với quản lý là ông ý k muốn em làm việc ở công ty nữa. Quản lý bên em không có bất kỳ một lời giải thích nào và cũng không có ý định muốn giữ em ở lại công ty làm việc lâu dài). Sau đó trình ban lãnh đạo công ty để ký quyết định cho em nghỉ từ ngày 01/05/2018.Lương tháng 4/2018 bên phía công ty không trả cho người lao động. Sổ bảo hiểm đã chốt với cơ quan bảo hiểm về doanh nghiệp cũng liên hệ với người lao động lên lấy sổ bảo hiểm mà lại cất vào Két sắt. Tất cả những công cụ dụng cụ làm việc và những vấn đề tồn đọng liên quan đến công việc em đã bàn giao cho người phụ trách mới rồi.

Hỏi: Em phải làm như thế nào để có thể lấy lại lương và sổ bảo hiểm ạ. Em rất mong nhận được sự tư vấn của các anh chị trong đoàn luật sư ạ. Em cảm ơn ạ.

Trả lời: Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đề nghị tư vấn đến Luật Sư Toàn Quốc, trường hợp của bạn chúng tôi tư vấn như sau:

Thứ nhất, tại Điều 37 Bộ luật lao động năm 2012 có quy định về quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động như sau:

1. Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn, hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trước thời hạn trong những trường hợp sau đây:

a) Không được bố trí theo đúng công việc, địa điểm làm việc hoặc không được bảo đảm điều kiện làm việc đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động;

b) Không được trả lương đầy đủ hoặc trả lương không đúng thời hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động;

c) Bị ngược đãi, quấy rối tình dục, cưỡng bức lao động;

d) Bản thân hoặc gia đình có hoàn cảnh khó khăn không thể tiếp tục thực hiện hợp đồng lao động;

đ) Được bầu làm nhiệm vụ chuyên trách ở cơ quan dân cử hoặc được bổ nhiệm giữ chức vụ trong bộ máy nhà nước;

e) Lao động nữ mang thai phải nghỉ việc theo chỉ định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền;

g) Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 90 ngày liên tục đối với người làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn và một phần tư thời hạn hợp đồng đối với người làm việc theo hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa được hồi phục.

2. Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại khoản 1 Điều này, người lao động phải báo cho người sử dụng lao động biết trước:

a) Ít nhất 3 ngày làm việc đối với các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và g khoản 1 Điều này;

b) Ít nhất 30 ngày nếu là hợp đồng lao động xác định thời hạn; ít nhất 03 ngày làm việc nếu là hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng đối với các trường hợp quy định tại điểm d và điểm đ khoản 1 Điều này;

c) Đối với trường hợp quy định tại điểm e khoản 1 Điều này thời hạn báo trước cho người sử dụng lao động được thực hiện theo thời hạn quy định tại Điều 156 của Bộ luật này.

3. Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, nhưng phải báo cho người sử dụng lao động biết trước ít nhất 45 ngày, trừ trường hợp quy định tại Điều 156 của Bộ luật này.


Nếu như bạn chấm dứt hợp đồng lao động đúng với quyền được đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động như Điều 37 trên thì được gọi là chấm dứt hợp đồng lao động đúng luật. Còn nếu như chấm dứt hợp đồng lao động không đúng quy định như trên thì là đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật theo quy định tại Điều 43 Luật lao động năm 2012.

Thứ hai, tại Điều 43 Bộ luật lao động năm 2012 còn quy định về nghĩa vụ của người lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật như sau:

1. Không được trợ cấp thôi việc và phải bồi thường cho người sử dụng lao động nửa tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.

2. Nếu vi phạm quy định về thời hạn báo trước thì phải bồi thường cho người sử dụng lao động một khoản tiền tương ứng với tiền lương của người lao động trong những ngày không báo trước.

3. Phải hoàn trả chi phí đào tạo cho người sử dụng lao động theo quy định tại Điều 62 của Bộ luật này”.

Như vậy, trong trường hợp này của bạn thì nếu như bạn chấm dứt hợp đồng lao động đơn phương phù hợp với quy định tại Điều 37 Bộ luật lao động thì bạn sẽ không vi phạm, không phải bồi thường nửa tháng tiền lương. Nếu như công ty không đưa ra bất kỳ lý do gì để không trả lương cho bạn là không có căn cứ. Còn việc công ty bạn giữ hết lương tháng 4 và không trả lương bạn là trái theo quy định của pháp luật. Đối với việc này bạn có thể gửi đơn lên phòng sở lao động thương binh xã hội hoặc gửi đơn ra tòa án để giải quyết quyền lợi cho bạn về việc công ty không trả tiền lương cho bạn.

 

Thứ ba, là về việc công ty không trả bảo hiểm cho bạn khi bạn viết đơn xin nghỉ việc đã báo trước 30 ngày theo đúng theo thời gian quy định của pháp luật. Nếu như công ty bạn cố tình không trả sổ bảo hiểm cho bạn thì trong trường hợp này bạn có thể khiếu nại trực tiếp lên ban lãnh đạo công ty bạn để giải quyết. Nếu như công ty không giải quyết bạn có thể gửi đơn lên phòng sở lao động thương binh xã hội để giải quyết cho bạn về vấn đề công ty không trả sổ bảo hiểm cho bạn.

0/5 (0 Reviews)

Leave a Comment

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *