Tư vấn về trường hợp người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng

Xin kính chào luật sư. Tôi có sự việc này mong nhận được sự tư vấn từ phía luật sư. Tôi có kí kết hợp đồng lao động thời vụ với công ty, thời hạn của hợp đồng là từ ngày 01/06/2017 đến 30/11/2017.

Trong quá trình làm việc tôi luôn hoàn thành công việc được giao và không vi phạm nội quy công ty, tuy nhiên đến ngày 28/10/2017 tôi nhận được thông tin từ quản lí trực tiếp của tôi là ngày 02/11/2017 người nhân viên mà hiện tại tôi đang làm thay vị trí của chị ấy sau thời gian nghỉ sinh sẽ vào làm việc trở lại như vậy điều đó có nghĩa là từ ngày 02/11/2017 tôi sẽ phải nghỉ việc và công ty yêu cầu tôi viết đơn thôi việc để bổ sung cho công ty hoàn tất hồ sơ thôi việc của tôi. Xin luật sư cho tôi hỏi, việc công ty thông báo kết thúc hợp đồng thời vụ với tôi như thế đã đúng theo luật chưa? Vì phía nhân sự có liên lạc với tôi và giải thích rằng công ty chỉ cần báo trước cho tôi trước 3 ngày trong bất cứ thời gian nào trong khoảng thời hạn mà công ty và tôi đã kí kết là đã đủ cơ sở để tôi nghỉ việc. Tôi xin chân thành cảm ơn luật sư tư vấn và mong nhận được phản hồi sớm từ luật sư.

Trả lời tư vấn: Chào bạn. Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi tư vấn đến Luật Sư Toàn Quốc, trường hợp của bạn chúng tôi tư vấn như sau:

Điều 38 Bộ luật Lao động 2012 quy định quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người sử dụng lao động như sau:

1. Người sử dụng lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trong những trường hợp sau đây:

a) Người lao động thường xuyên không hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động;

b) Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 12 tháng liên tục đối với người làm theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, đã điều trị 06 tháng liên tục, đối với người lao động làm theo hợp đồng lao động xác định thời hạn và quá nửa thời hạn hợp đồng lao động đối với người làm theo hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa hồi phục.

Khi sức khỏe của người lao động bình phục, thì người lao động được xem xét để tiếp tục giao kết hợp đồng lao động;

c) Do thiên tai, hỏa hoạn hoặc những lý do bất khả kháng khác theo quy định của pháp luật, mà người sử dụng lao động đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng vẫn buộc phải thu hẹp sản xuất, giảm chỗ làm việc;

d) Người lao động không có mặt tại nơi làm việc sau thời hạn quy định tại Điều 33 của Bộ luật này.”

Điều 41 Bộ luật lao động 2012 quy định:

Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật là các trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động không đúng quy định tại các điều 37, 38 và 39 của Bộ luật này.

Trường hợp của bạn, theo những điều bạn trình bày thì không có căn cứ nào quy định tại khoản 1 Điều 38 Bộ luật lao động 2012 để công ty có thể đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động với bạn. Việc công ty yêu cầu chấm dứt hợp đồng lao động đối với bạn không thuộc một trong các trường hợp được quy định tại Điều 38 Bộ luật lao động nên được coi là chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật.

Ngoài ra, theo quy định tại Điều 42 BLLĐ về nghĩa vụ của người sử dụng lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật quy định

“Điều 42. Nghĩa vụ của người sử dụng lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật

1. Phải nhận người lao động trở lại làm việc theo hợp đồng lao động đã giao kết và phải trả tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế trong những ngày người lao động không được làm việc cộng với ít nhất 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.

2. Trường hợp người lao động không muốn tiếp tục làm việc, thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này người sử dụng lao động phải trả trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 48 của Bộ luật này.

3. Trường hợp người sử dụng lao động không muốn nhận lại người lao động và người lao động đồng ý, thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này và trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 48 của Bộ luật này, hai bên thỏa thuận khoản tiền bồi thường thêm nhưng ít nhất phải bằng 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động để chấm dứt hợp đồng lao động.

4. Trường hợp không còn vị trí, công việc đã giao kết trong hợp đồng lao động mà người lao động vẫn muốn làm việc thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này, hai bên thương lượng để sửa đổi, bổ sung hợp đồng lao động.

5. Trường hợp vi phạm quy định về thời hạn báo trước thì phải bồi thường cho người lao động một khoản tiền tương ứng với tiền lương của người lao động trong những ngày không báo trước.”

Theo khoản 4 Điều này, khi không còn vị trí cũ đã giao kết trong hợp đồng, mà bạn vẫn muốn làm việc thì ngoài khoản bồi thường quy định tại khoản 1, bạn có thể thương lượng để sửa đổi bổ sung hợp đồng.

Trên đây là nội dung tư vấn của Luật Sư Toàn Quốc về vấn đề bạn hỏi và quan tâm. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ cần luật sư giải đáp, bạn vui lòng gọi đến Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến của chúng tôi – Số điện thoại liên hệ: 0926 220 286 để được hỗ trợ kịp thời.

0/5 (0 Reviews)

Leave a Comment

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.