Vi phạm nghĩa vụ báo trước khi chấm dứt hợp đồng lao động thì có được hưởng trợ cấp thất nghiệp không?

Luật sư tư vấn về vấn đề vi phạm nghĩa vụ báo trước khi chấm dứt hợp đồng lao động thì có được hưởng trợ cấp thất nghiệp không. Nội dung tư vấn như sau:

Nội dung câu hỏi: Kính gửi Luật sư, nhờ Luật sư tư vấn và hướng dẫn giải quyết lương và trợ cấp thôi việc cho người lao động khi chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật. Khi người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật không thuộc một trong những trường hợp quy định tại Khoản 1 Điều 37 và vi phạm thời hạn báo trước theo quy định tại Khoản 2, 3 Điều 37 thì căn cứ Điều 43 của Bộ Luật Lao động để giải quyết. Tuy nhiên, em đang gặp vướng mắc và không biết cách giải quyết lương và trợ cấp thôi việc cho những trường hợp sau: Trường hợp thứ nhất là khi người lao động viết đơn nghỉ việc báo trước 30 ngày nhưng không tuân thủ theo thời hạn quy định thì người lao động có được hưởng trợ cấp thôi việc khi làm việc tại công ty từ đủ 12 tháng trở lên không? Vi phạm thời hạn báo trước có phải bồi thường tiền tương ứng với tiền lương của những ngày không báo trước?; Trường hợp thứ hai là bỏ việc (không viết đơn nghỉ việc) thì có được hưởng trợ cấp thôi việc khi làm việc tại công ty từ đủ 12 tháng trở lên không? Vi phạm thời hạn báo trước có phải bồi thường tiền tương ứng với tiền lương của những ngày không báo trước không?. Kính mong Luật Sư tư vấn và hướng dẫn để công ty thực hiện đúng theo quy định hiện hành của Luật Lao Động.Trong thời gian chờ đợi sự phản hồi từ Luật Sư, xin chân thành cám ơn!. Trân trọng kính chào.

Trả lời tư vấn: Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi cho Luật Sư Toàn Quốc. Trường hợp của bạn chúng tôi tư vấn như sau:

Thứ nhất, về quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động.

Căn cứ quy định tại Điều 37 Bộ luật lao động 2012 quy định về quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động như sau:

Điều 37. Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động

1. Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn, hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trước thời hạn trong những trường hợp sau đây:

a) Không được bố trí theo đúng công việc, địa điểm làm việc hoặc không được bảo đảm điều kiện làm việc đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động;

b) Không được trả lương đầy đủ hoặc trả lương không đúng thời hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động;

c) Bị ngược đãi, quấy rối tình dục, cưỡng bức lao động;

d) Bản thân hoặc gia đình có hoàn cảnh khó khăn không thể tiếp tục thực hiện hợp đồng lao động;

đ) Được bầu làm nhiệm vụ chuyên trách ở cơ quan dân cử hoặc được bổ nhiệm giữ chức vụ trong bộ máy nhà nước;

e) Lao động nữ mang thai phải nghỉ việc theo chỉ định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền;

g) Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 90 ngày liên tục đối với người làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn và một phần tư thời hạn hợp đồng đối với người làm việc theo hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa được hồi phục.

2. Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại khoản 1 Điều này, người lao động phải báo cho người sử dụng lao động biết trước:

a) Ít nhất 3 ngày làm việc đối với các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và g khoản 1 Điều này;

b) Ít nhất 30 ngày nếu là hợp đồng lao động xác định thời hạn; ít nhất 03 ngày làm việc nếu là hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng đối với các trường hợp quy định tại điểm d và điểm đ khoản 1 Điều này;

c) Đối với trường hợp quy định tại điểm e khoản 1 Điều này thời hạn báo trước cho người sử dụng lao động được thực hiện theo thời hạn quy định tại Điều 156 của Bộ luật này.

3. Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, nhưng phải báo cho người sử dụng lao động biết trước ít nhất 45 ngày, trừ trường hợp quy định tại Điều 156 của Bộ luật này.

Theo quy định trên, người lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trước thời hạn khi có một trong những căn cứ chấm dứt quy định tại khoản 1 điều này và đồng thời người lao động phải thực hiện quy định về thời hạn báo trước tại khoản 2 Điều 37 Bộ luật lao động 2012. Những trường hợp không thực hiện đúng quy định trên đều là chấm dứt hợp đồng lao động trái quy định pháp luật.

Ngoài ra, trong trường hợp người lao động làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn thì có quyền chấm dứt hợp đồng lao động phải báo trước cho người sử dụng lao động biết trước 45 ngày (không cần có căn cứ tại khoản 1 Điều 37 Bộ luật lao đông 2012).

Thứ hai, nghĩa vụ của người lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật.

Theo quy định tại Điều 43 Bộ luật lao động về nghĩa vụ của người lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật

“1. Không được trợ cấp thôi việc và phải bồi thường cho người sử dụng lao động nửa tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.

2. Nếu vi phạm quy định về thời hạn báo trước thì phải bồi thường cho người sử dụng lao động một khoản tiền tương ứng với tiền lương của người lao động trong những ngày không báo trước.

3. Phải hoàn trả chi phí đào tạo cho người sử dụng lao động theo quy định tại Điều 62 của Bộ luật này.”

Như vậy, theo quy định của pháp luật hiện hành, nếu người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động mà vi phạm về lý do chấm dứt hoặc thời hạn báo trước quy định tại Điều 37 của Bộ luật lao động là chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật và phải thực hiện nghĩa vụ quy định tại Điều 43 của Bộ luật lao động.

Đối chiếu với tình huống của bạn, người lao động làm việc theo hợp đồng xác định thời hạn có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động khi có lý do chấm dứt đúng quy định và thực hiện quy định về thời hạn báo trước là 30 ngày làm việc.

Tại trường hợp thứ nhất người lao động đã viết đơn xin nghỉ nhưng lại vi phạm quy định về thời hạn báo trước (không tuân thủ đủ 30 ngày) là chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật. Do đó, người lao động sẽ không được hưởng trợ cấp thôi việc, phải bồi thường cho người sử dụng lao động nửa tháng tiền lương trong hợp đồng lao động, và phải bồi thường thêm một khoản tiền tương ứng với tiền lương trong những ngày vi phạm thời hạn báo trước.

Trường hợp thứ hai, người lao động tự ý bỏ việc thì không được hưởng trợ cấp thôi việc, phải bồi thường cho người sử dụng lao động nửa tháng tiền lương, phải bồi thường phần tiền tương ứng với tiền lương trong những ngày không báo trước theo quy định.

Trên đây là nội dung tư vấn của Luật Sư Toàn Quốc về vấn đề bạn hỏi và quan tâm. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ cần luật sư giải đáp, bạn vui lòng gọi đến Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến của chúng tôi – Số điện thoại liên hệ: 0926 220 286 để được hỗ trợ kịp thời.

0/5 (0 Reviews)

Leave a Comment

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *