Xác định giá trị tiền hoặc hiện vật dùng để đánh bạc để truy cứu TNHS về tội đánh bạc

Xác định giá trị tiền hoặc hiện vật dùng để đánh bạc để truy cứu TNHS về tội đánh bạc

Hỏi về thời hạn giải quyết khi có tin báo về tội phạm, cách xác định tiền và hiện vật dùng để đánh bạc để truy cứu TNHS tội đánh bạc. Nội dung tư vấn như sau

Nội dung câu hỏi:Cháu có đánh bạc và bị công an bắt quả tang gồm 4 người chơi bài tú lơ khơ với hình thức chơi liêng, khi bị bắt trên chiếu bạc cả của 4 người có tổng số tiền là 1 triệu 7 trăm ngàn, số tiền trong ví là 4 triệu tất cả, trong biên bản công an cũng ghi rõ số tiền trên chiếu và số tiền trong ví, và đã tạm thu ví+ tiền+ điện thoại của 4 người để điều tra sử lý, từ ngày bị bắt đến hôm nay là 3 ngày mà chưa thấy công an gọi lên để giải quyết Luật sư cho cháu hỏi trường hợp của cháu thì sẽ điều tra bao nhiêu ngày thì giải quyết và mức độ phạm tội như thế nào ạ Mong luật sư tư vấn giúp ạ .

Trả lời: Cám ơn bạn đã gửi câu hỏi đến Luật Sư Toàn Quốc, với câu hỏi của bạn chúng tôi xin trả lời như sau

Để xác định bạn có bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội đánh bạc hay không thì dựa vào giá trị tiền hoặc hiện vật dùng để đánh bạc.Khoản tiền hặc hiện vật dùng đánh bạc được xác định theo Khoản 3 Điều 1 Nghị quyết 01/2010/NQ-HĐTP như sau

Điều 1. Về một số quy định tại Điều 248 của Bộ luật hình sự

..3. “Tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc” bao gồm:

a) Tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc thu giữ được trực tiếp tại chiếu bạc;

b) Tiền hoặc hiện vật thu giữ được trong người các con bạc mà có căn cứ xác định đã được hoặc sẽ được dùng đánh bạc;

c) Tiền hoặc hiện vật thu giữ ở những nơi khác mà có đủ căn cứ xác định đã được hoặc sẽ được dùng đánh bạc.”

Như vậy, nếu cơ quan có thẩm quyền xác minh được số tiền 4 triệu trong ví đã được hoặc sẽ được dùng để đánh bạc thêm với số tiền 1 triệu 7 thu giữ tại chiếu bạc, ngoài ra không còn khoản tiền hoặc hiện vật nào ở những nơi khác dùng để đánh bạc tổng tiền được dùng vào việc đánh bạc là 5 triệu 700 nghìn. Bạn có thể bị truy cứu TNHS theo Khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017 như sau

Điều 321. Tội đánh bạc

1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.”.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:

a) Có tính chất chuyên nghiệp;

b) Tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc trị giá 50.000.000 đồng trở lên;

c) Sử dụng mạng internet, mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội;

d) Tái phạm nguy hiểm.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.”

Theo thông tin bạn cung cấp, khi bạn cùng 4 người khác đang có hành vi đánh bạc thì bị cơ quan công an phát hiện và bị bắt giữ do phạm tội quả tang. Trong trường hợp này, công an có quyền tạm giữ bạn với thời hạn tạm giữ được quy định theo Điều 118 Bộ luật tố tụng hình sự 2015. Cụ thể:

Điều 118. Thời hạn tạm giữ

1. Thời hạn tạm giữ không quá 03 ngày kể từ khi Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra nhận người bị giữ, người bị bắt hoặc áp giải người bị giữ, người bị bắt về trụ sở của mình hoặc kể từ khi Cơ quan điều tra ra quyết định tạm giữ người phạm tội tự thú, đầu thú.

2. Trường hợp cần thiết, người ra quyết định tạm giữ có thể gia hạn tạm giữ nhưng không quá 03 ngày. Trường hợp đặc biệt, người ra quyết định tạm giữ có thể gia hạn tạm giữ lần thứ hai nhưng không quá 03 ngày.

Mọi trường hợp gia hạn tạm giữ đều phải được Viện kiểm sát cùng cấp hoặc Viện kiểm sát có thẩm quyền phê chuẩn. Trong thời hạn 12 giờ kể từ khi nhận hồ sơ đề nghị gia hạn tạm giữ, Viện kiểm sát phải ra quyết định phê chuẩn hoặc quyết định không phê chuẩn.

3. Trong khi tạm giữ, nếu không đủ căn cứ khởi tố bị can thì Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra phải trả tự do ngay cho người bị tạm giữ; trường hợp đã gia hạn tạm giữ thì Viện kiểm sát phải trả tự do ngay cho người bị tạm giữ.

4. Thời gian tạm giữ được trừ vào thời hạn tạm giam. Một ngày tạm giữ được tính bằng một ngày tạm giam.”

Qua việc xác minh, điều tra nếu có căn cứ về  hành vi cấu thành tội phạm thì cơ quan có thẩm quyền ra quyết định khởi tố vụ án hình sự. Phụ thuộc vào tính chất nghiêm trọng của tội phạm, thời hạn điều tra có thể tư 2 tháng đến không quá 4 tháng và có thể được gia hạn theo quy định tại Điều 172 Bộ luật tố tụng hình sự 2015

“Điều 172. Thời hạn điều tra

1. Thời hạn điều tra vụ án hình sự không quá 02 tháng đối với tội phạm ít nghiêm trọng, không quá 03 tháng đối với tội phạm nghiêm trọng, không quá 04 tháng đối với tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng kể từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc điều tra.

2. Trường hợp cần gia hạn điều tra do tính chất phức tạp của vụ án thì chậm nhất là 10 ngày trước khi hết thời hạn điều tra, Cơ quan điều tra phải có văn bản đề nghị Viện kiểm sát gia hạn điều tra.

Việc gia hạn điều tra được quy định như sau:

a) Đối với tội phạm ít nghiêm trọng có thể được gia hạn điều tra một lần không quá 02 tháng;

b) Đối với tội phạm nghiêm trọng có thể được gia hạn điều tra hai lần, lần thứ nhất không quá 03 tháng và lần thứ hai không quá 02 tháng;

c) Đối với tội phạm rất nghiêm trọng có thể được gia hạn điều tra hai lần, mỗi lần không quá 04 tháng;

d) Đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng có thể được gia hạn điều tra ba lần, mỗi lần không quá 04 tháng.

3. Đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng mà thời hạn gia hạn điều tra đã hết nhưng do tính chất rất phức tạp của vụ án mà chưa thể kết thúc việc điều tra thì Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có thể gia hạn thêm một lần không quá 04 tháng.

Đối với tội xâm phạm an ninh quốc gia thì Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có quyền gia hạn thêm một lần không quá 04 tháng…

Trên đây là nội dung tư vấn của Luật Sư Toàn Quốc về vấn đề bạn hỏi và quan tâm. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ cần luật sư giải đáp, bạn vui lòng gọi đến Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến của chúng tôi – Số điện thoại liên hệ: 0926 220 286 để được hỗ trợ kịp thời.

Trân trọng

Luật gia / CV tư vấn: Phương Hà – Luật Sư Toàn Quốc

0/5 (0 Reviews)

Leave a Comment

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *